Web Analytics

Static Wikipedia: Italiano - Inglese - Francese - Spagnolo - Tedesco - Portoghese - Olandese - Polacco - Russo - CineseTurco - Svedese - Swahili - Afrikaans - Vietnamita - Ebraico - Greco - Arabo - Coreano - Finlandese - Winaray - Giapponese - Ungherese - Bulgaro - Farsi - Danese - HindiLituano - Lettone - Catalano - Euskera - Esperanto - Estone -Norvegese -Rumeno -
 Static Wikipedia - Other Languages:  aa - aab - als - am - amg - an -  arc- as - ba - bar - bat - bcl -  be - bh - bi - bm - bn - bo - bpy - br - bs - bug - bxr - cdo - ce - ceb - ch - cho - chr - chy - co - cr - crh - cs - csb - cu - cv - cy- diq - dib - dv - dzee - eml  - ext - fa - ff - fiu - fj - fo - frp - fur - fy - ga - gan - gd - gl - glk . gn - got - gugv - ha - hak  - hif - ho - hr - hsb  - hy - hz -ia- id - ie - ig - ii - ik - ilo - io - is - iu - jbo - jv - ka - kaa - kab - kg - ki - kj - kk - kl - km - kn - kr - ks - ksh - ku - kv - kw - ky - la - lad - lb - lbe - lg - li - lij - lmo - ln - lomdf - mg - mh - mi - mk - ml - mn - mo - mr - mt - mus -my - myv - mzn - na - nh - nap - ne - nds - new -ng - nn - nov - nrm - nv - ny - oc - om - or - os - pag - pa - pdc - pih - pi - pms - ps - qu - rm - rmy - rn - rw - sa- sah - sc -scn - sco -sd - se - sg - sh - si - simple - sk - sl - sm - sn - so - sr - srn - ss - st - stq - su - szl - ta - te - tet - tg - th - ti - tk - tl - tlh - tn - to - tpi - ts - tt - tum - tw - ty - udm - ug - uk - ur - uz - ve - vec - vi - vls - vo - wa - war - wo - wuu -xal - xh - yi - yo - za - zea - zu -  
Other Static Wikipedia: .org - .it - .net - .eu - com - controversi.org - literaturaespanola.es - Quality articles
Wikipedia for Schools: English - French - Spanish - Portuguese
101 free audiobooks - Stampa Alternativa - The Open DVD - Open Bach Project  - Liber Liber - PunchLibretti d'opera - Audioletture - Audible
Appunti di informatica libera - Conferenze - Audiobook PG - Bach Organ WorksEnglish PG - Italiano PG - GNUtemberg - Guide LinuxAnonymous PG -
Holy Bible: King James Version -  OnLine Bible - Spanish Reina Valera - French Segond - World English Bible - KJV Concordances - Concordanza Biblica -
Paris – Wikipedia tiếng Việt

Paris

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Xin xem các mục từ khác có tên tương tự ở Paris (định hướng).

Thành phố Paris
Tháp Eiffel khi hoàng hôn
Khẩu hiệu thành phố: Fluctuat nec mergitur
La Tinh: Lênh đênh trên sóng không bao gi? chìm
Huy hiệu Paris
C? Paris
Huy hiệu và c? Vị trí Paris
Hành chính
Quốc gia Pháp
Vùng Île-de-France
Tỉnh Paris
Quận Gồm 20 quận
Thị trưởng
– Nhiệm kỳ
Bertrand Delanoë
2001-2008
Múi gi? UTC+1
Mã bưu điện 75001-75020 và 75116
Web www.paris.fr
Nội ô Paris
Diện tích 105 km²
Dân số 2.142.800 ngư?i
Mật độ 20.408 ngư?i/km²
Vùng đô thị Paris
Diện tích 14.518 km²
Dân số 11.174.743 ngư?i
Mật độ 770 ngư?i/km²
France

Paristhành phố thủ đô của nước Pháp, cũng là trung tâm hành chính của vùng Île-de-France. Nằm ở phía Bắc nước Pháp, khu vực trung tâm của châu Âu, Paris được xây dựng hai bên b? sông Seine với tâm là đảo Île de la Cité. ?ây cũng là nơi hợp lưu của sông Seine và sông Marne.

Paris nằm ở điểm gặp nhau của các hành trình thương mại đư?ng bộ và đư?ng sông, và là trung tâm của một vùng nông nghiệp giầu có. Vào thế kỷ 10, Paris đã là một trong những thành phố chính của Pháp cùng các cung điện hoàng gia, các tu viện và nhà th?. Từ thế kỷ 12, Paris trở thành một trong những trung tâm của châu Âu v? giáo dụcnghệ thuật. Thế kỷ 14, Paris là thành phố quan tr?ng bậc nhất của Cơ ?ốc giáo và trong các thế kỷ 16, 17, đây là nơi diễn ra Cách mạng Pháp cùng nhi?u sự kiện lịch sử quan tr?ng của Pháp và châu Âu. ?ến thế kỷ 1920, thành phố trở thành một trong những trung tâm văn hóa của thế giới, thủ đô của nghệ thuật và giải trí.

Năm 2005, nội ô Paris có dân số là 2.153.600 ngư?i, mật độ 20.408 ngư?i/km², thuộc hàng cao nhất trong các thủ đô châu Âu. Nếu tính toàn bộ vùng đô thị Paris, vào năm 1999, dân số Paris là 11.174.740 ngư?i, đứng thứ ba châu Âu sau Moskva, ngang với London và khoảng thứ 20 thế giới. Là thành phố thủ đô, Paris tập trung các hoạt động văn hóa, tài chính, thương mại... của toàn nước Pháp. Năm 2006, GDP của Paris cùng với toàn vùng Île-de-France đạt 500,839 tỷ euro, tương đương với nước Hà Lan.

Nổi tiếng với tên g?i Kinh đô ánh sáng, Paris là một trung tâm văn hóa lớn của thế giới và cũng là một trong những thành phố du lịch thu hút nhất. Sự nhộn nhịp, các công trình kiến trúc và không khí nghệ sĩ đã giúp Paris mỗi năm có đến 30 triệu khách nước ngoài. Thành phố còn được xem như kinh đô của th?i trang cao cấp với nhi?u khu phố xa xỉ cùng các trung tâm thương mại lớn. Là nơi đặt trụ sở chính của các tổ chức quốc tế như OECD, UNESCO... cộng với những hoạt động đa dạng v? tài chính, kinh doanh, chính trị và du lịch đã khiến Paris trở thành một trong những trung tâm trung chuyển lớn nhất trên thế giới và được coi như một trong bốn « thành phố toàn cầu » cùng với New York, London, Tokyo.

Mục lục

[sửa] Tên g?i

« Paris » xuất phát từ tên g?i những ngư?i Parisii bộ tộc Gaulois. Năm 52 trước Công Nguyên, khi ngư?i La Mã tới, h? g?i khu vực này là Lutetia hay Lutetia Parisiorum. Khoảng năm 300, Lutetia được đổi tên thành Paris, lấy từ chữ « Civitas Parisiorum » - có nghĩa Thành của ngư?i Parisii. Còn nguồn gốc tên những ngư?i Parisii vẫn chưa được chắc chắn. Hiện nay, ở Paris cũng có một khách sạn nổi tiếng mang tên Lutetia.

Trong tiếng Việt, Paris từng được g?i phổ biến bằng tên Ba Lê, âm Hán-Việt của 巴黎. Nhưng tên g?i này hiện nay ít được sử dụng, và Ba Lê còn trùng với nghệ thuật múa ba lê, xuất phát từ chữ ballet trong tiếng Pháp. Còn cách viết cũ dựa vào phiên âm, Paris được viết là Pa-ri, tương tự Mát-xcơ-va cho Moskva. Nhưng cách phiên âm Pa-ri cũng không hẳn chính xác. Trong khi với những ngư?i Anh, Paris được phát âm là /ˈpæɹɪs/, thì những ngư?i Pháp g?i tên thủ đô của mình là /paˈ?i/ .

Paris nổi tiếng với tên g?i « Kinh đô ánh sáng », vốn từ trong tiếng Pháp là « Ville lumière », dịch chính xác là Thành phố ánh sáng, cũng giống trong tiếng Anh: The City of Lights. Tên g?i này được bắt đầu từ nghĩa đen của nó: cuối thế kỷ 17, trung tướng cảnh sát đầu tiên của Paris Gabriel Nicolas de La Reynie ra lệnh thắp sáng những khu vực công cộng nhi?u tệ nạn của thành phố. Nhưng bởi Paris nổi tiếng với vị trí trung tâm văn hóa, tri thức của cả thế giới, nên tên g?i này thư?ng được hiểu theo nghĩa bóng.

Cùng với Venezia, Paris còn được ví là « Thành phố của tình yêu ». Những ngư?i yêu thích Paris cũng nói: Chỉ cần thêm hai chữ cái, Paris trở thành thiên đư?ng. Trong tiếng Pháp, thêm hai chữ ad, Paris thành Paradis, có nghĩa là thiên đư?ng. Từ « parisien » trong tiếng Pháp là tính từ của Paris, cũng là danh từ để chỉ những ngư?i dân của thành phố này. Ngoài ra, « parisien » còn là một từ lóng được các nhà văn của thế kỷ 19 như Victor Hugo, Eugène Sue hay Balzac sử dụng rộng rãi và còn phổ biến cho tới thập niên 1950.

Một tên g?i thân mật khác của Paris là « Paname » từ đầu thế kỷ 20 khi những chiếc mũ panama phổ biến. Bắt đầu bởi các công nhân đào con kênh Panama, loại mũ này rất thịnh hành ở Mỹchâu Âu. Rồi đến Paris, tất cả đàn ông đ?u đội một chiếc panama và nó thành một tên g?i cho thành phố. Cũ hơn nữa, Paris và một trong các ngoại ô là Pantin được g?i lóng là « Pantruche » theo tên công ty tổ chức lễ hội Carnaval của Paris: Compagnie Carnavalesque Parisienne « les Fumantes de Pantruche ». « Parigot » cũng là một từ lóng để chỉ những ngư?i Paris, nhưng từ này ít nhi?u mang tính châm ch?c, chễ giễu.

[sửa] ?ịa lý

Ảnh vệ tinh khu vực Paris
Ảnh vệ tinh khu vực Paris

Tại trung tâm của bồn Paris, trên một vùng trầm tích bằng phẳng rộng lớn, Paris nằm hai bên b? sông Seine. Hai đảo của sông tạo nên trung tâm lịch sử của thành phố: Île de la Cité ở phía Tây và Île Saint-Louis ở phía ?ông. Từ tâm này, thành phố trải rộng ra xung quanh, nhưng phần diện tích Paris ở phía Bắc - tức hữu ngạn sông Seine - rộng hơn bên tả ngạn phía Nam rõ rệt. Cả hai bên sông Seine, một số vùng đất tạo bởi đá thạch cao nhô lên thành những quả đồi nh?[1]. Ở hữu ngạn: đồi Montmartre có độ cao là 131 mét, đỉnh là vị trí nhà th? Saint-Pierre[2]; Belleville cao 128,5 m tại phố Télégraphe; Ménilmontant 108 m; công viên Buttes-Chaumont 103 m; Passy 71 m. Bên tả ngạn: Montparnasse cao 66 m; Butte aux Cailles 63 m; đồi Sainte-Geneviève 61 m.

Vào năm 1844, nội ô Paris (Paris intra-muros) được giới hạn bởi bức tư?ng thành Thiers. Tới năm 1860, một số hạt và quận xung quanh được sát nhập vào thành phố. Còn ngày nay, Paris được phân định với ngoại ô bằng các đại lộ vành đai dài 35 km. Tuy nhiên có một vài ngoại lệ. Quận 15 vượt qua ranh giới này tới sân bay trực thăng Issy-les-Moulineaux. Quận 16 bao gồm cả rừng Boulogne rộng 846 hecta ở phía Tây. Còn rừng Vincennes rộng 995 hecta thuộc Quận 12 ở phía ?ông. Tổng cộng chu vi của Paris dài tới 54,74 km.

Thành phố Paris rộng 105 km². Nếu tính khu vực đô thị Paris, có nghĩa gồm thành phố và đô thị ngoại ô, tổng diện tích là 2.723 km² với 9.644.507 dân vào năm 1999, chiếm 396 xã của vùng Île-de-France[3]. Còn toàn bộ vùng đô thị Paris, có nghĩa bao gồm tất cả các vùng phụ cận chịu ảnh hưởng của thủ đô, vào năm 1999 có dân số 11.174.743 ngư?i trên tổng cộng 1.584 xã[4].

?iểm cây số 0 của Pháp được đánh dấu ở sân trước nhà th?i ?ức Bà, có t?a độ địa lý 48,85341°N, 2,34880°E. ?ây là điểm giữa, cũng là trung tâm lịch sử của thành phố Paris, nằm trên đảo Île de la Cité.

[sửa] ?ịa chất thủy văn

Quang cảnh Paris nhìn từ tháp Eiffel
Quang cảnh Paris nhìn từ tháp Eiffel

Bồn Paris tạo nên một tập hợp các lớp trầm tích kế tiếp. ?ây là một trong những nơi đầu tiên trở thành đối tượng của việc xây dựng bản đồ địa chất và cho phép tạo ra nhi?u lý thuyết v? địa chất, như cổ sinh vật h?c và giải phẫu so sánh của Georges Cuvier[5]. Bồn Paris được tạo trong khoảng th?i gian 41 ngàn năm. ?ây là một bồn th?m lục địa trên những khối núi từ th?i ?ại cổ sinh như khối núi Vosges, khối núi Massif central, khối núi Armorica. Với sự tạo thành của dãy Alps, bồn Paris bị đóng lại, chỉ còn mở ra phía biển Manche?ại Tây Dương. Nó báo trước cho sự hình thành lưu vực sông Loire và sông Seine. Cuối thế Oligocen, bồn Paris trở thành lục địa[5].

Năm 1911, nhà địa lý Paul Lemoine chỉ ra rằng bồn Paris được hợp bởi những địa tầng bố trí thành những vùng trũng đồng tâm[6],[7]. Sau đó, các nghiên cứu sâu hơn trên nhưng dữ liệu địa chấn và phương pháp khoan đã cho phép có một cái nhìn chính xác. Chúng xác nhận những vùng trũng đồng tâm nhưng phức tạp giống như các phay. Sự cấu tạo của địa hình Paris nằm ở các tầng ?ại Trung SinhKỷ Paleogen và được tạo bởi sự xói mòn.

?ịa tầng đầu tiên bắt đầu từ Kỷ ?ệ Tam tiếp tục bồi đắp bởi sông Seine vào th?i kỳ hiện đại. Các lớp đ?ng đầu tiên là cátđất sét xuất hiện ở khu vực Trocadéro, Quận 16 ngày nay. Nhưng giai đoạn được biết tới nhi?u nhất là tầng Lutetia với các lớp đ?ng giàu thạch caođá vôi[8]. Tầng động vật này đã được đặt theo tên tiếng La Tinh của Paris: Lutetia. Lòng đất của Paris mang nhi?u đặc tính với sự hiện diện của đá vôi, thạch cao và đá vôi silic. Một số đã được sử dụng như ở Hầm mộ Paris, ngày nay vẫn được mở cửa một phần cho công chúng. ?á vôi được khai thác cho tới thế kỷ 14 ở tả ngạn sông Seine, từ quảng trư?ng Italie tới phố Vaugirard. Ngày nay sự khai thác chuyển v? Oise[9]. Còn việc khai thác thạch cao từng rất phổ biến ở Montmartre và Bagneux.

Dòng sông Seine chảy qua Paris theo hình một cánh cung: vào thành phố từ phía ?ông Nam và ra kh?i thành phố phía Tây Bắc. Hơn 30 cây cầu của Paris bắc qua dòng sông này. Còn có hai dòng chảy khác qua Paris. Sông Bièvre phía nam, ngày nay ngầm hoàn toàn dưới đất. Kênh Saint-Martin hoàn thành 1825 dài 4,5 km, nối với bồn Villette và vào thành phố ở phía ?ông Bắc. Kênh Saint-Martin chảy ngầm dưới đất cho tới phố Faubourg-du-Temple ở quảng trư?ng Bastille rồi tiếp tục chảy lộ thiên và nối với sông Seine ở phía thượng lưu của đảo Île Saint-Louis. Một con kênh khác là Saint-Denis, cũng nối với bồn Villette theo hướng Saint-Denis, dài 4,5 km và hoàn thành vào năm 1821. Con kênh này gặp sông Seine ở phần hạ lưu và không đi qua Paris[10]. Một dòng sông nữa là Marne, chảy gần Paris qua Seine-Saint-Denis, Val-de-Marne và gặp sông Seine ở phía đông nam thành phố.

?ịa chất thủy văn đã ảnh hưởng nhi?u tới quy hoạch đô thị Paris. Sông Bièvre, một nhánh nh? của sông Seine, đã bị che lại, chỉ chảy ngầm dưới đất từ thế kỷ 19 bởi vấn đ? vệ sinh. Nhi?u dòng nước ngầm khác dưới lòng Paris, như Auteuil đã cung cấp nước cho thành phố bởi các giếng khoan. Các mạch nước tầng Alba được biết đến nhi?u nhất trong vùng Paris và được khai thác từ năm 1841 bởi giếng Grenelle[11].

[sửa] Khí hậu và môi trư?ng

Paris có khí hậu ôn đới đại dương. Ảnh hưởng của đại dương chiếm ưu thế, thể hiện như: mùa hè mát, trung bình 18°C; mùa đông không quá lạnh, trung bình 6°C; các mùa đ?u mưa nhi?u và th?i tiết thất thư?ng. Lượng mưa trung bình ở Paris là 641 mm. Mưa tuyết không nhi?u, chủ yếu vào những tháng lạnh nhất như tháng 1, tháng 2, nhưng đôi khi vào tận tháng 4. Tuy vậy khí hậu Paris cũng đôi khi đột biến. Nhiệt độ cao nhất ghi được tại đây là vào ngày 28 tháng 6 năm 1948, lên đến 40,4°C. Còn nhiệt độ thấp nhất ghi lại được vào ngày 10 tháng 12 năm 1879, xuống tới -23,9°C[12]. Mùa hè năm 2003, cùng với châu Âu, Paris cũng phải chịu một trận nắng nóng lịch sử.

Như tất cả các thành phố lớn khác trên thế giới, Paris chịu hậu quả của sự thay đổi môi trư?ng do dân số tăng và các hoạt động kinh tế[13]. Là thủ đô có mật độ dân số cao nhất châu Âu nhưng tỷ lệ không gian xanh ở Paris lại thấp nhất, dù những thập kỷ gần đây một số công viên và vư?n mới được tạo thêm. Không chỉ là l?i đồn, vấn đ? phân chó thực sự có ở Paris. Nó vẫn xuất hiện trên vỉa hè, dù ngày nay nhi?u ngư?i dắt chó đi dạo phải mang theo túi ni lông để nhặt phân chó[14].

  Dữ liệu trạm khí tượng Paris-Montsouris 1961-1990 [15],[16]
Tháng  1  2  3  4  5  6  7  8  9 10 11 12 Năm
Nhiệt độ thấp nhất trung bình (°C) 2,0 2,6 4,5 6,7 10,1 13,2 15,2 14,8 12,6 9,4 5,2 2,9 8,3
Nhiệt độ trung bình (°C) 4,2 5,3 7,8 10,6 14,3 17,4 19,6 19,2 16,7 12,7 7,7 5,0 11,7
Nhiệt độ cao nhất trung bình (°C) 6,3 7,9 11,0 14,5 18,4 21,6 23,9 23,6 20,8 16,0 10,1 7,0 15,1
Lượng mưa trung bình (mm) 55.0 45.4 52.2 49.5 62.0 53.2 58.3 46.0 52.9 54.9 57.0 55.1 641.6

[sửa] Lịch sử

Paris có một lịch sử lâu đ?i, gắn li?n với lịch sử Pháp và cả châu Âu. Từ một thành trì của ngư?i Parisii thuộc bộ tộc Gaulois, nơi đây trở thành một thành phố La Mã vào thế kỷ 1. Tới thế kỷ 6, vua Clovis I lấy Paris làm thủ đô cho vương quốc Franc. Trải qua nhi?u thế kỷ biến động, mặc dù không liên lục, Paris vẫn là thủ đô của Pháp. Tới thế kỷ 16, thành phố là nơi nổ ra Cách mạng Pháp, rồi sau đó trở thành thủ đô của ?ệ nhất đế chế th?i Napoléon Bonaparte. Vào thế kỷ 17, Paris bắt đầu có những phát triển vượt bậc và được quy hoạch lại dưới th?i Napoléon III. Sau Công xã Paris, thành phố bước vào th?i kỳ Belle Époque và trở thành trung tâm văn hóa của cả châu Âu. Qua hai cuộc chiến tranh thế giới, Paris ít bị hủy hoại và tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn hậu chiến. Ngày nay, thành phố tiếp tục là một trung tâm văn hóa, kinh tế của cả thế giới.

[sửa] Ti?n sử và Cổ đại

Tấm bản đồ đầu tiên của Paris, th?i mang tên Lutetia, thuộc La Mã
Tấm bản đồ đầu tiên của Paris, th?i mang tên Lutetia, thuộc La Mã

Cách đây ít nhất 40.000 năm đã có sự hiện diện của con ngư?i ở vùng Île-de-France, bằng chứng là những công cụ đá được tìm thấy ở b? sông Seine[17]. Vào đầu th?i kỳ ?ồ đá mới, khoảng năm 4.000 đến 3.800 trước Công Nguyên, con ngư?i đã sinh sống thư?ng xuyên ở b? trái một nhánh cũ của sông Seine, thuộc Quận 12 ngày nay[18],[19]. Dư?ng như sự sống của con ngư?i đã liên tục ở đây suốt th?i kỳ ?ồ đá mới, nhưng không có nhi?u hiểu biết v? khoảng th?i gian từ th?i Ti?n sử cho tới th?i kỳ Gaule La Mã[20].

Những ngư?i Parisii thuộc bộ tộc Gaulois đã làm chủ khu vực này cho đến năm 52 trước Công Nguyên, khi quân đội của Julius Caesar tới. Trong trận chiến với quân đội La Mã, ngư?i Gaulois đã phá cầu, đốt thành của mình. Cũng không biết chính xác thành của ngư?i Gaulois đã nằm ở đâu: Île de la Cité, Île Saint-Louis, hay một hòn đảo khác mà ngày nay đã nhập vào tả ngạn. Thậm chí có thể là ở tận Nanterre[21].

Sau thất bại của những ngư?i Gaulois, nơi đây trở thành Lutetia. Vào thế kỷ 1, một thành phố La Mã được được xây dựng ở b? trái sông Seine theo bản vẽ kiểu Hippodamos. Lutetia chỉ có khoảng 5 tới 6 ngàn dân vào th?i kỳ đỉnh cao. Trong đế chế La Mã, nó chỉ là một thành phố khiêm tốn, so sách với Lugdunum vào thế kỷ 2 có tới 40.000 đến 400.000 ngư?i[22]. Theo truy?n thuyết thì Thánh Denis, ngư?i tử vì đạo khoảng năm 250, đã truy?n Cơ ?ốc giáo vào thành phố. Khoảng năm 300, Lutetia được đổi tên thành Paris. Năm 451, trước sự xâm lược của ngư?i Hung và ngư?i Attila, Thánh Geneviève - một ngư?i có ảnh hưởng to lớn của Cơ ?ốc giáo khi đó và v? sau trở thành thánh bảo trợ của Paris - đã đến thuyết phục những ngư?i dân Paris không chạy trốn. Nhưng sau đó h? đã thất bại ở trận Chalons[23].

[sửa] Trung Cổ

Tấm bản đồ thứ tư của Paris, năm 1223
Tấm bản đồ thứ tư của Paris, năm 1223

Th?i kỳ Trung Cổ, thành phố thoát kh?i sự cai trị của những ngư?i Attila trong một th?i gian ngắn rồi Childéric I tới chiếm vào năm 464. Năm 508, sau khi chiến thắng những ngư?i La Mã, Clovis I - con trai của Childéric I - lấy Paris làm thủ đô của vương quốc Franc và sống ở đây tới khi chết vào năm 511. Trong khoảng th?i gian sau đó, thành phố cùng các công trình tôn giáo tiếp tục được xây dựng. Vào thế kỷ 9, các bức thành được dựng lên bên ở hữa ngạn để bảo vệ các giáo khu Saint-Gervais và Saint-Germain-l'Auxerrois. Năm 845, những ngư?i Viking tới đánh Paris lần đầu tiên, dân chúng phải r?i b? thành phố. Các cuộc tấn công này còn kéo dài tới đầu thế kỷ 10 và được kết thúc bởi hòa ước Saint-Clair-sur-Epte năm 911[24].

Năm 987, dòng h? Capet lên trị vì. Khi đó, Paris và Orléans là hai thành phố lớn nhất trong lãnh thổ và vương tri?u Capet đã ch?n Orléans. Hugues Capet, mặc dù cung điện ở Île de la Cité nhưng ít khi sống ở đây. Robert II thì đến Paris thư?ng xuyên hơn. Từ thế kỷ 11, Paris trở thành một trung tâm quan tr?ng của giáo dục tôn giáo[25]. Quy?n lực hoàng gia dần được tập trung ở Paris và thành phố trở lại thành thủ đô của vương quốc từ th?i vua Louis VI, rồi Philippe Auguste. Là điểm giao của các con đư?ng buôn bán lớn, Paris trở nên giàu có nh? thương mại. Lúa mì vào thành phố từ phố Saint-Honoré, dạ ở phố Saint-Denis, và từ biển Bắc và biển Manche đến Paris ở phố Poissonniers... Vào năm 1150, dân số Paris ước tính khoảng 50.000 ngư?i.

Năm 1163, giáo mục Maurice de Sully xây dựng nhà th? ?ức Bà trên đảo Île de la Cité. Sự quan tr?ng của thành phố tăng lên, Paris trở thành trung tâm chính trị lẫn tôn giáo. Tả ngạn sông Seine với các nhà th? đóng vai trò quan tr?ng v? giáo dục. Còn hữu ngạn là trung tâm của thương mại và tài chính. Vào th?i kỳ này, các trư?ng h?c của giáo hội gây dựng được tiếng tăm và muốn trở nên độc lập. Dưới th?i vua Philippe II, năm 1215, ?ại h?c Paris được thành lập. Vua Saint Louis lên ngôi năm 1226, cho xây dựng nhà th? Sainte-Chapelle và tiếp tục công trình nhà th? ?ức Bà. Khoảng 1328, dân số Paris ước tính khoảng 200.000 ngư?i, là thành phố đông dân nhất châu Âu[26],[27]. Nhưng năm vào 1348, nạn dịch hạch đen đã tàn sát dân chúng thành phố. Trong thế kỷ 14, bức tư?ng thành của vua Charles V bao gồm cả Quận 3Quận 4 ngày nay, và trải từ cầu Pont Royal tới cửa ô Saint-Denis.

Năm 1337 nổ ra cuộc chiến tranh Trăm năm. Sự bất mãn của dân chúng đã nuôi tham v?ng của quan thái thú Étienne Marcel gây nên chính biến lớn đầu tiên trong lịch sử Pháp vào năm 1358. ?i?u này khiến các vị vua không còn ở trong trung tâm thành mà tới Hôtel Saint-Pol, rồi Hôtel des Tournelles, nơi dễ dàng thoát khi có binh biến. Năm 1407 nổ ra cuộc nội chiến giữa hai phe Armagnacs và Bourguignons, tới 1420 mới kết thúc[28]. Chiến tranh Trăm năm vẫn tiếp tục, Paris nằm trong phần lãnh thổ do ngư?i Anh kiểm soát. Năm 1429, Jeanne d'Arc thất bại trong việc đánh đổ ngư?i Anh và đồng minh là Bourguignons rồi bị thiêu sống năm 1431. Tới năm 1453, th?i vua Charles VII, chiến tranh kết thúc. Nhưng Charles VII và con trai là Louis XI lại chuyển đến Val de Loire.

Trong khoảng từ 1422 đến 1500, dân số Paris tăng lên, từ 100 ngàn thành 150 ngàn ngư?i. Giữa thế kỷ 16, tuy kinh tế có phát triển nhẹ, nhưng thiếu vắng tri?u đình, Paris chuyển thành một thành phố hành chính và tư pháp[29].

[sửa] Từ Phục Hưng tới thế kỷ 18

Paris năm 1607
Paris năm 1607

Vào th?i kỳ Phục Hưng, tri?u đình vẫn ở Val de Loire. Paris tiếp tục được mở rộng nhưng khá lộn xộn. Năm 1500, quy tắc xây dựng đô thị đầu tiên được ban bố[30]. Tới năm 1528, François I chính thức chuyển v? Paris. Theo ý muốn của nhà vua, ở Collège de France, giáo dục hiện đại hướng đến chủ nghĩa nhân đạokhoa h?c chính xác. Dưới sự trị vì của François I, Paris đạt tới 280.000 ngư?i và tiếp tục là thành phố đông dân nhất tây Âu[31].

Từ 1562 tới 1598 là khoảng th?i gian Chiến tranh tôn giáo với 8 cuộc xung đột liên tiếp. Ngày 24 tháng 8 năm 1572, dưới th?i Charles IX, đã xảy ra vụ Thảm sát Ngày lễ Thánh Barthélemy. Những ngư?i Công giáo tàn sát những ngư?i Kháng Cách khắp Paris với số nạn nhân trong khoảng 2 ngàn tới 10 ngàn ngư?i[32]. Giáo hội Pháp, đặc biệt ở Paris, nổi dậy chống lại vua Henri III vào năm 1588. Ngày 2 tháng 8 năm 1589, Henri III bị ám sát, Henri de Navarre trở thành vua Henri IV của Pháp năm 1589. Paris, mặc dù đổ nát và hoang tàng đã không mở cửa cho nhà vua cho tới tận 1594. Năm 1610, một kẻ cuồng tín ám sát Henri IV trên phố Ferronnerie, Paris.

Năm 1648, một vụ nổi loạn của dân Paris là nguyên nhân khiến kinh tế giảm sút. Mặc dù số lượng ngư?i chết cao hơn số lượng sinh, nhưng dân số Paris vẫn đạt tới 400.000 nh? những cuộc di cư từ các tỉnh. Th?i kỳ này, Paris là một thành phố thảm hại và kém an ninh. Khu phố Caire và Réaumur, ở quận Quận 2 ngày nay, tràn ngập trộm cắp và ăn mày, được g?i là Cour des miracles. Từ năm 1656, nh? trung tướng cảnh sát Gabriel Nicolas de La Reynie, nó mới dần bị dẹp b?[33].

Kể từ Louis XIII, và tiếp đó là Louis XIV, các vị vua Pháp chuyển đến sống tại cung điện Versailles. Năm 1682 tri?u đình cũng chuyển v? Versailles, Jean-Baptiste Colbert trở thành ngư?i quản lý Paris. Mặc dù Versailles nằm rất gần Paris, nhưng trong suốt th?i gian trị vì Louis XIV chỉ đến Paris 24 lần để dự các buổi lễ chính thức[34]. Năm 1715, công tước Philippe II, khi đó là nhiếp chính, r?i Versailles v? Palais-Royal trong Paris. Tiếp đó vị vua trẻ Louis XV sống tại cung điện Tuileries. Một lần nữa, tri?u đình quay v? Paris. Nhưng từ 1722, Louis XV lại trở lại cung điện Versailles[35].

Trong thế kỷ 18, Paris trở thành trung tâm tri thức, nơi sản sinh những tư tưởng của Khai sáng, là th?i kỳ hoàng kim của các phòng khách văn h?c. Thế kỷ 18 còn là giai đoạn Paris phát triển mạnh mẽ v? kinh tế khiến dân số tăng nhanh, đạt tới con số 640.000 ngư?i[36] trước khi nổ ra Cách mạng Pháp. Thành phố khi đó trải rộng bằng khoảng 6 quận trung tâm của Paris hiện nay, vư?n Luxembourg đánh dấu ranh giới phía tây. Tuy ở Versailles, Louis XV vẫn yêu thích thành phố, quyết định xây dựng quảng trư?ng Louis XV - tức quảng trư?ng Concorde - cùng việc mở ra trư?ng quân sự École militaire vào năm 1752[37]. Và hơn hết là việc xây dựng một nhà th? ở Sainte-Geneviève vào năm 1754, chính là ?iện Panthéon[38].

[sửa] Các mạng Pháp và ?ế chế

Lễ Fédération, 14 tháng 7 năm 1790
Lễ Fédération, 14 tháng 7 năm 1790

Cách mạng Pháp được bắt đầu ở Versailles với sự triệu tập Hội nghị các đẳng cấp và sau đó là L?i tuyên thệ Jeu de paume, những ngư?i thuộc ?ẳng cấp thứ ba tự thành lập quốc hội. Nhưng nguyên nhân chính của cách mạng là ở Paris: những ngư?i dân bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế, giá bánh mỳ tăng, nhạy cảm với chính trị bởi các tư tưởng Khai sáng và oán giận tri?u đình cùng tầng lớp quý tộc[39].

Việc chiếm ngục Bastille ngày 14 tháng 7 năm 1789 là bước đầu tiên. Jacques de Flesselles - prévôt des marchands của thành phố, tương đương thị trưởng - bị giết. Ngày 15 tháng 7, nhà thiên văn Jean Sylvain Bailly tới Tòa thị chính trở thành thị trưởng đầu tiên của Paris. ?ến cuối tháng 7 thì tinh thần chủ quy?n nhân dân lan ra khắp nước Pháp. Ngày 4 tháng 8, Quốc hội tuyên bố bãi b? chế độ phong kiến. Ngày 5 tháng 10, những ngư?i nổi dậy tới Versailles vào buổi tối. Sáng ngày 6, h? chiếm lâu đài và buộc nhà vua phải quay trở lại Paris, trú ngụ ở cung điện Tuileries. Sau đó một Quốc hội lập hiến được triệu tập ở Tuileries ngày 19 tháng 10[40].

Ngày 14 tháng 7 năm 1790, lễ hội Fédération được tổ chức ở Champ-de-Mars mừng một năm ngày phá ngục Bastille. Quốc hội với nhi?u bè phái dẫn tới mâu thuẫn. ?a số vẫn ủng hộ chế độ quân chủ, đã đi đến th?a thuận cho vua Louis làm một đấng quân vương bù nhìn. Tình hình chính trị rối loạn đẩy Pháp vào cuộc chiến tranh với ?o và các đồng minh. Ngày 20 tháng 4 năm 1792, Pháp khai chiến với ?o, tình hình trong nước hỗi loạn. ?êm 9 tháng 7 năm 1792, những ngư?i cách mạng chiếm Tòa thị chính thành phố. Trong ngày 10 tháng 8, đám đông vây hãm cung điện Tuileries với sự ủng hộ của chính quy?n thành phố mới. Vua Louis XVI cùng hoàng gia bị tống giam ở Tour du Temple. Ngày 21 tháng 9 năm 1792, chính quy?n tuyên bố chấm dứt chế độ quân chủ và lập ra n?n Cộng hòa. Ngày 21 tháng 1, tại quảng trư?ng Louis XV - được đặt tên lại là quảng trư?ng Cách mạng - Louis XVI bị hành quyết bởi tội danh âm mưu chống lại tự do nhân dân và an ninh chung. Sau đó tới Marie-Antoinette, Danton, LavoisierRobespierre cùng khoảng 1200 ngư?i khác bị ghép vào tội phản cách mạng, lĩnh án tử hình[41].

Th?i kỳ Cách mạng không phải là giai đoạn tốt cho việc phát triển thành phố. Rất ít công trình được xây dựng và nhi?u nhà th?, tu viện bị phá hủy. ?ến th?i kỳ ?ốc chính, một số công trình phong cách Tân cổ điển m?c lên. Vào năm 1800, dân số Paris khoảng 548.000 ngư?i. ?ến năm 1806, nh? các cuộc di cư từ các tỉnh, dân số Paris lên đến 650.000 ngư?i[42]. So với London, từ giữa thế kỷ 18, Paris bị b? xa v? kinh tế lẫn dân số. Năm 1800, dân số London đã xấp xỉ 1.000.000 ngư?i.

Năm 1799, Napoléon Bonaparte lên nắm quy?n. Ngày 2 tháng 12 năm 1804, Napoléon nhận tôn phong hoàng đế từ giáo hoàng Pie VII tại nhà th? ?ức Bà. Paris tiếp tục là thủ đô của ?ệ nhất đế chế Pháp.

[sửa] Từ th?i kỳ Khôi phục tới Công xã Paris

?ại lộ Opéra sau cải tạo Paris th?i ?ệ nhị đế chế, tranh của Camille Pissarro
?ại lộ Opéra sau cải tạo Paris th?i ?ệ nhị đế chế, tranh của Camille Pissarro

Sự sụp đổi của ?ệ nhất đế chế vào 1814 và 1815 dẫn đến việc quân đội AnhNga tới đồn trú ở Paris. Louis XVIII trở v? từ nơi lưu đày, ngụ tại cung điện Tuileries.

Louis XVIII và Charles X, rồi cả n?n Quân chủ tháng bảy ít bận tâm tới quy hoạch đô thị Paris. Giai cấp công nhân phát triển mạnh, sống chen chúc trong các khu phố trung tâm, mật độ tới 100.000 ngư?i một km². Dịch tả năm 1832 sát hại 32.000 ngư?i. Vào năm 1848, 80 % số ngư?i chết bị chôn ở các huyệt tập thể và hai phần ba dân Paris quá nghèo để trả ti?n thuế. Những ngư?i dân bị bần cùng hóa tiếp tục nổi dậy khiến Charles X, rồi Louis-Philippe phải thoái vị.

?ây cũng là giai đoạn Paris có nhi?u phát triển. Năm 1825, việc xây dựng kênh Saint-Martin hoàn tất. Ngày 26 tháng 8 năm 1837, tuyến đư?ng sắt đầu tiên của Pháp hoàn thành, nối Paris với Saint-Germain-en-Laye. Các nhà ga Saint-Lazare, Gare du Nord, các tuyến đư?ng sắt Paris-Orléans, Paris-Rouen được xây dựng mở ra kỷ nguyên đư?ng sắt. Năm 1825, chiếu sáng công cộng bằng khí gaz được thử nghiệm ở quảng trư?ng Vendôme. Và tới năm 1843, chiếu sáng bằng điện được thử nghiệm ở quảng trư?ng Concorde. Xã hội phức tạp th?i kỳ này được phản ánh qua các tác phẩm của Balzac, Victor Hugo hay Eugène Sue.

?ệ nhị đế chế bắt đầu từ năm 1852. Dưới th?i Napoléon III, Paris có những thay đổi triệt để. Trong vòng không đến 20 năm, từ một thành phố với cấu trúc cũ, Paris trở thành một thành phố hiện đại. Napoléon III cùng nam tước Haussmann có những ý tưởng chính xác v? quy hoạch thành phố: các con phố, đại lộ được vẽ lại, quy định v? mặt ngoài các ngôi nhà, bố trí các không gian xanh... Ngày 1 tháng năm 1860, một đạo luật cho phép sát nhập một loạt hạt xung quanh với Paris. Từ 12 quận với 3.288 hecta, Paris trở thành 20 quận với tổng diện tích 7.088 hecta. Sự phát triển đô thị còn tiếp tục vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.

Trong cuộc chiến tranh Pháp-Phổ, năm 1870 Paris bị quân đội Phổ vây hãm trong nhi?u tháng. Ngày 8 tháng 2 năm 1871, một chính phủ mới được bầu. Tới ngày 26 tháng 2, một hiệp định sơ bộ được ký ở Versailles chuẩn bị cho hiệp ước Frankfurt - mà nước Pháp quá thua thiệt - sau đó. Tới ngày 1 tháng 5, mang tính tượng trưng, những nhóm quân Phổ vào Paris diễu hành trên đại lộ Champs-Élysées. Dân chúng Paris bất mãn, nổi dậy ngày 18 tháng 5 năm 1871, là sự bắt đầu của Công xã Paris. Adolphe Thiers cùng chính phủ phải tạm th?i chuyển v? Versailles ngày 20 tháng 3. Từ 22 tới 28 tháng 5 là Tuần lễ đẫm máu kết thúc Công xã Paris[43],[44].

[sửa] Từ Belle Époque tới Thế chiến thứ hai

Trong th?i kỳ Belle Époque, Paris có những bước phát triển kinh tế quan tr?ng. Năm 1913, thành phố có tới một ngàn công ty với một triệu nhân công[45]. Trong khoảng th?i quan 1900 tới 1913, sau sự ra đ?i của điện ảnh, 175 rạp chiếu phim được mở ở Paris. Các đại cửa hàng cũng bắt đầu xuất hiện, mở đầu là Le Bon Marché, rồi tới La Samaritaine, Galeries Lafayette... Hai cuộc triển lãm thế giới vào năm 1889 và 1900 minh chứng cho giai đoạn hoàng kim của Belle Époque. Tháp Eiffel xây dựng nhân triển lãm năm 1889, kỷ niệm 100 năm Cách mạng Pháp. Tuyến tàu điện ngầm đầu tiên cùng Grand Palais, Petit Palaiscầu Alexandre-III hoàn thành năm 1900. Công nghiệp phát triển chuyển ra ngoài ngoại thành: hãng ô tô Renault ở Boulogne-Billancourt và Citroën ở Suresnes. Một số lĩnh vực khác, như ngành inbáo chí, vẫn ở lại trong nội ô thành phố[46]. Belle Époque cũng là th?i kỳ mà Paris trở thành trung tâm văn hóa của thế giới. Thành phố sản sinh ra nhi?u nghệ sĩ lớn cùng rất nhi?u các nhà văn, h?a sĩ nổi tiếng của Pháp và khắp nơi trên thế giới tới Paris.

Năm 1910, sông Seine với một trận lụt thế kỷ đã làm thành phố thiệt hại tới ba tỷ franc[47]. Trong Thế chiến thứ nhất, Paris tránh được những trận đánh nhưng phải chịu các buộc ném bom và nã pháo của quân đội ?ức[48]. Tuy vậy các cuộc ném bom này chỉ lẻ tẻ và mang tính chất tâm lý[49]. Vào khoảng th?i gian giữa hai cuộc thế chiến, thành phố phải đối mặt với những khủng hoảng v? kinh tế và xã hội. ?ể giải quyết vấn đ? nhà ở, những chung cư bình dân được lập nên. Bên cạnh đó, ngoại ô cũng được chia lô để xây dựng các ngôi nhà. Vào năm 1921, dân số Paris lên đến 2.906.000 ngư?i[50].

Trong Thế chiến thứ hai, nước Pháp đầu hàng, Chính phủ của thống chế Pétain chuyển đến Vichy. Paris trở thành trụ sở chỉ huy của quân đội ?ức tại Pháp[51]. Ngày 16 và 17 tháng 7 năm 1942, 12.884 ngư?i Do Thái - cả phụ nữ và trẻ em - bị bắt[52]. Ngày 6 tháng 6 năm 1944, các lực lượng ?ồng Minh đổ bộ vào b? biển Normandie và tới ngày 25 tháng 8, Paris được giải phóng. Trước khi rút quân, tướng Dietrich von Choltitz đã trái lệnh Adolf Hitler, không cho phá hủy thành phố[53].

[sửa] Paris đương đại

Năm 1956, Paris trở thành thành phố sinh đôi của Roma, như một biểu tượng của sự hòa giải sau Thế chiến thứ hai[54]. Trong nhiệm kỳ của tổng thống Charles de Gaulle, từ 1958 tới 1969, nhi?u sự kiện chính trị đã diễn ra ở thủ đô. Ngày 17 tháng 10 năm 1961, một cuộc biểu tình cho n?n độc lập của Algérie bị cảnh sát đàn áp, ước tính 32 tới 325 ngư?i chết[55]. Từ ngày 22 tháng 3 năm 1968, một phong trào sinh viên, bắt đầu từ ?ại h?c Nanterre lan dần tới khu phố La Tinh trở thành một vụ bạo loạn. ?ỉnh điểm ngay 13 tháng 5, một cuộc biểu tình với 800.000 ngư?i chống lại cảnh sát. Phải sau hai tháng, tình hình mới yên tĩnh trở lại[56].

Vào th?i kỳ tiếp theo, các tổng thống Pháp cho xây dựng nhi?u công trình hiện đại cả trong Paris và ngoại ô. Từ những năm 1960, khu đô thị hiện đại La Défense dần xuất hiện. Vào năm 1976, chính phủ lần đầu tiên chấp nhận một hội đồng thị chính độc lập kể từ 1871. Jacques Chirac trở thành thị trưởng Paris đầu tiên kể từ 1871 và giữ chức vụ này cho tới tận 16 tháng 5 năm 1995. Trong nhiệm kỳ của tổng thống François Mitterrand, luật ngày 31 tháng 12 năm 1982 cho phép mỗi quận của Paris có một quận trưởng và hội đồng riêng[57].

Thị trưởng của Paris hiện nay là Bertrand Delanoë, đảng viên ?ảng xã hội, được bầu năm 2001. Bertrand Delanoë theo đuổi những chính sách giảm lượng ô tô trong thành phố, khuyến khích phương tiện giao thông công cộng cùng xe đạp và đi bộ. Cũng trong nhiệm kỳ của Bertrand Delanoë, một số hoạt động, lễ hội như Nuit Blanche, Paris-Plage bắt đầu được tổ chức hằng năm.

[sửa] Dân số

Không giống với các thủ đô khác, địa giới của Paris chỉ bao gồm 20 quận. Khu vực ngoại ô nằm ngoài 20 quận này tuy được đô thị hóa từ thế kỷ 19 và có mật độ dân số rất cao nhưng đ?u thuộc v? các tỉnh khác của vùng Île-de-France. Vì vậy tồn tại các khái niệm nội ô Paris, khu vực đô thị Paris, vùng đô thị Paris.

Theo ước tính của Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế quốc gia Pháp, dân số nội ô thành phố Paris vào 1 tháng 1 năm 2004 khoảng 2.142.800 ngư?i[58], đứng thứ năm trong Liên minh châu Âu. Số dân cư này sống trên một diện tích 10.540 hecta, tức mật độ dân số Paris là 20.408 ngư?i trên một km², thuộc hàng cao nhất châu Âu.

Theo đi?u tra năm 1999, khu vực đô thị Paris với 396 xã có dân số là 9.644.507[59]. Cũng năm 1999, vùng đô thị Paris, gồm tổng cộng 1584 xã chịu ảnh hương bởi thủ đô, có dân số 11.174.743 ngư?i[4], đứng thứ 22 trong các đô thị lớn trên thế giới thế giới.

[sửa] Tổ chức hành chính

Bài chi tiết: Thị chính Paris và Quận của Paris

Theo luật ngày 10 tháng 7 năm 1964[60], và có hiệu lực từ 1 tháng 1 năm 1968, v? tổ chức lại vùng Paris: thành phố Paris là một xã của Pháp (commune), đồng th?i là tỉnh của Pháp (département). Trước đó, từ năm 1790, Paris từng là tỉnh lỵ của tỉnh Seine.

Ngược lại với các thủ phủ khác của Pháp, không có sự liên quan v? thuế khóa giữa Paris và ngoại ô của thành phố. Cũng phải xác định rằng địa hạt của thành phố Paris chỉ bao gồm phần trung tâm, khác với các thủ đô khác trên thế giới.

Tỉnh Paris chỉ gồm một duy nhất, và được chia nh? thành 20 quận. Trong lịch sử, vào 11 tháng 10 năm 1795, Paris được chia làm 12 quận. Cách phân chia này kéo dài tới năm 1860, khi một số phần ngoại ô được sát nhập vào Paris, và thành phố được chia thành 20 quận như ngày nay. Tuy thế, trong bầu cử, Paris lại được chia thành 21 khu vực cử tri.

[sửa] Quy chế

Quy chế của Paris đã từng thay đổi nhi?u lần. Từ 26 tháng 3 tới 22 tháng 5 năm 1871, Paris là trụ sở của chính quy?n khởi nghĩa Công xã Paris với hội đồng dân chủ được bầu lên. Bắt đầu ?ệ tam cộng hòa, bộ luật được ban bố ngày 5 tháng 4 năm 1884 trao quy?n hành pháp cho tỉnh trưởng tỉnh Seine và quy?n cảnh sát cho cảnh sát trưởng thành phố. Hội đồng Paris, do thành phố bầu, mỗi năm chỉ định một chủ tịch có chức năng đại diện. Paris không có thị trưởng. Ngân sách thành phố do Nhà nước phê chuẩn.

Luật ngày 31 tháng 12 năm 1975, có hiệu lực vào năm 1977 khi bầu cử thành phố, đã thiết lập Hội đồng Paris. Hội đồng này vừa là hội đồng thị chính, vừa là hội đồng chung, gồm 109 thành viên là những ngư?i bầu lên thị trưởng Paris. Các ủy ban của quận giữ vai trò tư vấn. Cảnh sát trưởng được Nhà nước bổ nhiệm giữ vai trò cảnh sát. Cuối cùng, luật ngày 31 tháng 12 năm 1982 mở rộng quy?n lực của Hội đồng Paris, đóng vai trò chính v? mặt ngân sách và thiết lập các Hội đồng quận. Các chức năng v? quản lý hành chính trật tự xã hội được chia sẻ giữa thị trưởng và cảnh sát trưởng.

[sửa] Ngân sách và thuế

Conciergerie từng là một nhà tù, nơi giam giữ Marie-Antoinette
Conciergerie từng là một nhà tù, nơi giam giữ Marie-Antoinette

Ngân sách của thành phố năm 2007 lên đến 6,827 tỷ euro, trong đó 5,331 tỷ dành cho bộ máy hành chính và 1,495 tỷ dành cho đầu tư[61].

Hội đồng Paris quay lại tỷ lệ đánh thuế giống như năm 2000: 8,8 % thuế cư trú; 7,11 % thuế đất xây dựng; 13,5 % thuế đất không xây dựng và 12,35% thuế kinh doanh, sản xuất[62]. Thuế khóa chiếm 53,2 % nguồn thu của thành phố[63].

[sửa] Tư pháp

Tòa án lớn Paris nằm tại Palais de Justice trên đảo Île de la Cité. ?ây là nơi xét xử nhi?u vụ án lớn nhất của Pháp. Mỗi quận còn có một tòa án riêng. Tòa án thương mại của Paris cũng nằm trên đảo Île de la Cité. Tòa án cảnh sát ở phố Ferrus Quận 14 còn Hội đồng hòa giải lao động nằm trên phố Louis-Blanc Quận 10. Ngoài ra Paris còn có ba phòng giúp tư vấn v? những thông tin pháp lý tại các Quận 10, 1417[64].

Thành phố Paris có những nhà tù nổi tiếng, đi vào lịch sử: Bastille được hoàn thành năm 1370 bị phá trong Cách mạng Pháp; Conciergerie từng là nơi giam giữ Marie-Antoinette cùng một số nhân vật hoàng gia cũng trong th?i gian Cách mạng; một phần của lâu đài Vincennes cũng từng là nhà tù.

[sửa] Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Île-de-France
Khu vực La Défense
Khu vực La Défense

Vùng Île-de-France là một trong những khu vực kinh tế quan tr?ng nhất thế giới. Vào năm 2006, GDP của Île-de-France là 500,839 tỷ euro, tương đương 628,9 tỷ đô la[65]. Giả sử là một quốc gia, Île-de-France sẽ đứng thứ 17 thế giới, xấp xỉ với Hà Lan[66]. Mặc dù khu vực đô thị Paris có dân số đứng khoảng thứ 20 trong các khu vực đô thị lớn trên thế giới, nhưng GDP của Paris đứng thứ 4, chỉ sau Tokyo, New York, Los Angeles, và Chicago[67].

Hoạt động kinh tế ở khu vực Paris cũng đa dạng, không đặc trưng giống các thành phố kinh tế lớn khác như Los Angeles với ngành công nghiệp giải trí, hay LondonNew York với lĩnh vực tài chính. Theo số liệu của INSEE vào 31 tháng 12 năm 2004, vùng Île-de-France có 18.548 ngư?i làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp có 847.802 lao động, còn các ngành dịch vụ chiếm đến 4.476.415 ngư?i. Tuy nông nghiệp chiếm tới 50 % diện tích đất của toàn vùng, nhưng số nông dân chỉ là 7.600 ngư?i. Vào năm 2002, tổng sản phẩm nông nghiệp của Île-de-France đạt 750 triệu euro. Ở công nghiệp, con số đó là 67,25 tỷ euro với các lĩnh vực chủ yếu như: sản xuất hàng tiêu dùng, xây dựng, xe hơi, năng lượng... Còn ngành dịch vụ lên tới 328,225 tỷ euro, tương đương 82,8 %.

Nội ô Paris tập trung một số lượng lớn lao động, gần 1.650.600 vào năm 2004, chiếm 31 % số nhân lực của vùng. Tiếp theo đó là Hauts-de-Seine với 848.200, tương đương 16 % [68]. Vào năm 2002, mức lương trung bình ở Paris là 19 euro một gi?, cao hơn một chút so với toàn Île-de-France: 18,2 euro. So với trung bình của toàn nước Pháp là 13,1 euro một gi? thì nó vượt khá xa. Nhưng lại tồn tại một chênh lệch lớn: 10 % những nhân công hưởng lương cao nhất nhận được gấp bốn lần 10 % hưởng lương thấp nhất. Còn toàn vùng, tỷ lệ này là 3,7 và ở các tỉnh là 2,6. Mặt khác, còn có sự không đồng đ?u v? mặt địa lý: ở Quận 8, lương trung bình một gi? là 24,2 euro, cao hơn 82 % so với Quận 20: 13,3 euro. Nhưng ngược lại, sự chênh lệch lương giữa nam giới và nữ giới chỉ 6 %, trong khi ở các tỉnh lên đến 10 %[69].

[sửa] Các khu phố văn phòng

Paris thuộc khu vực kinh tế thứ ba - không trực tiếp sản xuất. Thành phố là nơi đặt trụ sở, văn phòng nhi?u công ty lớn của Pháp cũng như thế giới. Sở giao dịch chứng khoán Paris với gần 400 ngân hàng và công ty, được xem như đứng thứ tư thế giới, sau Tokyo, New YorkLondon.

?ược phát triển từ những năm 1960, khu vực La Défense ở phía tây thành phố với các nhà ch?c tr?i như tháp Areva, tháp EDF, tháp Gan... có tới 3 triệu văn phòng và tập trung 150.000 nhân viên. Có thể thấy ở đây sự hiện diện của 1.500 công ty, trong đó có 14 trong 20 công ty hàng đầu của Pháp và 15 trong 50 công ty hàng đầu của thế giới[70]. Vẫn có những dự án phát triển tiếp khu vực này với nhi?u nhà ch?c tr?i sẽ được thực hiện trong tương lai 2010 đến 2015. Một khu phố văn phòng khác thuộc trung tâm thành phố, quanh nhà hát Opéra Garnier. Tuy có một vài trò quan tr?ng nhưng ở đây giá bất động sản quá cao và diện tích các văn phòng rất giới hạn.

Một vài khu vực vẫn tiếp tục được quy hoạch. Paris Rive GaucheQuận 13 là dự án quan tr?ng nhất hiện nay. Hay ở ngoại ô, các địa điểm có giá bất động sản thấp hơn, như Plaine Saint-Denis thuộc tỉnh Seine Saint-Denis hoặc v? phía sân bay Charles-de-Gaulle[71].

[sửa] Du lịch

Bài chi tiết: Du lịch Paris
Sacré-Cœur, một trong những điểm thu hút nhất
Sacré-Cœur, một trong những điểm thu hút nhất

Du lịch, với khái niệm hiện đại, chỉ trở nên thực sự quan tr?ng ở Paris sau việc xuất hiện của đư?ng sắt vào những năm 1840. Và bắt đầu từ năm 1855, các Triển lãm thế giới đã thu hút số lượng lớn du khách, cũng là dịp giúp Paris có thêm nhi?u công trình mới, trong đó nổi tiếng nhất chính là tháp Eiffel vào năm 1889. Các công trình của Paris, cùng với các giá trị v? văn hóa, đã giúp du lịch thành phố đặc biệt phát triển.

Lĩnh vực du lịch hiện nay đóng một vai trò quan tr?ng trong n?n kinh tế Paris, chiếm 12,8 % nhân công của thành phố, tức 147.000 ngư?i. Các du khách chiếm 50 % số ngư?i tới thăm bảo tàng, 8 % doanh số của Công ty giao thông công cộng Paris RATP, và cuối cùng là 60 % khách tr? của các khách sạn[72]. Năm 2005, toàn vùng Île-de-France có 2.508 khách sạn với 154.745 phòng, trong đó 1.534 khách sạn nằm trong Paris. Tuy là một thành phố đắt đ?, nhưng giá các khách sạn 2 sao của Paris lại thấp, đứng thứ 17 trên tổng số 20 đô thị lớn của thế giới. Ngược lại, các khách sạn sang tr?ng của Paris lại thuộc hạng đắt nhất, sau Genève[73].

Năm 2006, Paris đón tổng cộng 27 triệu khách du lịch, trong đó 17 triệu khách nước ngoài. Còn toàn vùng Île-de-France con số lên đến 44 triệu. Vào năm 2006, năm mươi địa điểm văn hóa hàng đầu của thành phố đã có 69,1 triệu lượt viếng thăm, tăng 11,3% so với năm 2005. Nhà th? ?ức Bà đón 13,5 triệu du khách, là công trình thu hút nhất nước Pháp. Tiếp theo, nhà th? Sacré-Coeur với 10,5 triệu, viện bảo tàng Louvre với 8,3 triệu, tháp Eiffel 6,7 triệu, trung tâm Pompidou 5,1 triệu, Cité des sciences et de l'industrie trong công viên La Villettebảo tàng Orsay ngang nhau với 3 triệu lượt khách viếng thăm[74]. Ngoài ra công viên Disneyland nằm ở ngoại ô Paris mỗi năm cũng thu hút 12,5 triệu lượt khách[75].

Tuy là thủ đô thu hút nhất trên thế giới, nhưng Paris lại là một trong những thành phố đắt nhất và bị cho là kém hiếu khách. Theo cuộc một đi?u tra được thực hiện bởi văn phòng Global Market Insite v? 60 thành phố trên thế giới, qua ý kiến của 14.000 ngư?i[76], Paris đứng đầu là thành phố đẹp nhất, năng động nhất nhưng đứng thứ 52 v? chất lượng đón tiếp[77]. Chính quy?n thành phố đã có những cố gắng để thay đổi đi?u này. Trên truy?n hình xuất hiện những đoạn phim ngắn tự chế giễu v? tính kém hiếu khách của ngư?i dân Paris.

[sửa] Xã hội

[sửa] Khác biệt xã hội

Những ngư?i giàu có sống ở phía tây thành phố, trong khi phía đông bắc tập trung dân cư nghèo nhất và có gốc nhập cư
Những ngư?i giàu có sống ở phía tây thành phố, trong khi phía đông bắc tập trung dân cư nghèo nhất và có gốc nhập cư

Tương tự ở một vài thành phố lớn khác như London hay New York, sự tăng giá liên tục của bất động sản cho thấy những dân cư nghèo và trung bình dần được thay thế bằng một tầng lớp mới khá giả hơn. Ở Paris, sự vận động này phổ biến ngay cả ở những khu phố được xem là bình dân, như Quận 10 hay một số khu vực gần ngoại ô như Montreuil thuộc Seine-Saint-Denis. Paris là thành phố đứng thứ 12 nước Pháp v? tỷ lệ phải đóng thuế tài sản: 34,5 hộ trên 1.000 ngư?i dân. Năm 2006, 73.362 gia đình khai thuế tài sản trên 1.961.667 euro[78],[79]. Với 27.400 euro thu nhập trung bình cho mỗi ngư?i vào 2001, các gia đình Paris ở mức sung túc nhất nước Pháp. Bốn tỉnh dẫn đầu khác cũng đ?u thuộc Île-de-France: Hauts-de-Seine, Yvelines, EssonneVal-de-Marne. ?i?u này phản ánh sự tập trung nguồn nhân lực cao ở khu vực Paris.

Nhưng mặc dù Paris mang hình ảnh của một thành phố giàu có với những tầng lớp cao và quan tr?ng của xã hội, ngay trong nội thành Paris thực tế vẫn có những chênh lệch. Sự khác biệt truy?n thống đánh dấu bởi những ngư?i dân phía Tây thư?ng giàu có hơn phía ?ông. Thu nhập trung bình những ngư?i dân Quận 7 cao nhất, 31.521 euro trên một ngư?i một năm vào 2001. Còn ở Quận 19, con số này là 13.759 euro. Ngư?i dân ở các Quận 6, 7, 816 có thu nhập cao hơn các Quận 10, 18, 19, 20 - là những quận kém nhất[80]. Những ngư?i nghèo cũng tồn tại ở Paris: 12% số gia đình Paris, tức 210.000 ngư?i, sống dưới ngưỡng 670 euro mỗi tháng. Tỷ lệ này được đưa ra vào năm 2001, khi đó mức trung bình của vùng Île-de-France là 11,2%. Còn toàn nước Pháp là 13,7%[81].

Sự khác biệt xã hội này còn mang cả tính chủng tộc: 32,6 % các gia đình Paris có gốc ngoài Liên minh châu Âu ở mức nghèo, trong khi đó con số với những gia đình Pháp là 9,7 %[82]. Các Quận 18, 1920 tập trung tới 40% dân nghèo của Paris và nhi?u khu phố còn kèm theo các khó khăn xã hội khác, như thất nghiệp cao, đi?u kiện giáo dục, y tế cũng kém hơn. ?ây cũng là khu vực đón tiếp nhi?u ngư?i nhập cư đến từ Bắc Phi và một số nước gần Sahara. Chênh lệch mức sống phân bố theo địa lý còn kéo dài ra cả ngoài ngoại ô. Các xã thuộc Hauts-de-Seine gần Quận 16 giàu có hơn các xã thuộc Seine-Saint-Denis gần Quận 19.

Những khác biệt v? mặt xã hội còn có thể thấy ở một số khu phố xuất hiện các cộng đồng đặc thù. Khu phố Le Marais thu hút nhi?u ngư?i đồng tính. Cộng đồng Do Thái quy tụ quanh phố Rosiers từ thế kỷ 13. Phư?ng Olympiades Quận 13 là nơi tập trung những ngư?i Trung Quốc, Việt Nam, Lào... tạo nên khu phố châu ? lớn nhất ở châu Âu. Khu phố La Tinh, với các trư?ng h?c và công trình, luôn đông đúc sinh viên và khách du lịch.

[sửa] Gia đình

Tương tự nhi?u thành phố trung tâm khác, Paris có nhi?u sinh viên, thanh niên và ngư?i già hơn trung bình của cả nước Pháp. Vì thế số gia đình dư?ng như ít hơn. Vào năm 1999, trong số các gia đình Paris, có 22 % hợp thành bởi một cặp vợ chồng với ít nhất một con nh? hơn 25 tuổi. Số gia đình này, với tổng cộng 865.000 ngư?i, chiếm 40,7 % dân số Paris. Ngược lại có 27 % sống độc thân và 19 % sống đôi. Tức tổng cộng có khoảng 47% là độc thân trên giấy t?, trong khi tỷ lệ đó của toàn nước Pháp là 35 %. Có 37 % số ngư?i Paris đã kết hôn, còn cả nước Pháp tỷ lệ là 50 %.

Tỷ lệ số gia đình chỉ có bố hoặc mẹ của Paris cũng cao hơn trung bình nước Pháp. Vào năm 1999, trong khi cả nước Pháp là 19 % thì ở Paris là 27 %, chiếm 7,7 % dân số. ?i?u đó có thể cho thấy tỷ lệ ly hôn cũng cao: trên tổng số 100 cặp kết hôn có 55 cặp ly hôn sau đó. Tỷ lệ sinh của Paris cao hơn trung bình nước Pháp: 14,8 ca sinh trên 1.000 dân so với con số 13,2 của cả nước. Ngược lại, tỷ lệ sinh 1,75 con trên một gia đình của Paris thấp hơn mức trung bình 1,87 của cả vùng và 1,86 của cả nước Pháp. Trong đó 50 % số gia đình Paris chỉ có một con và 17 % có ba con hoặc hơn. Lý do bởi giá bất động sản cao, các gia đình thư?ng sống trong một diện tích nh? hẹp[83].

[sửa] Nhà ở

Khu Masséna thuộc dự án nhà ở Italie 13 bắt đầu vào thập niên 1960
Khu Masséna thuộc dự án nhà ở Italie 13 bắt đầu vào thập niên 1960

Hơn một nửa - 58,1 % vào năm 1999 - số căn hộ của Paris chỉ gồm một hoặc hai phòng[84]. ?i?u đó có thể cho thấy một phần khá lớn dân Paris sống độc thân hoặc là các cặp không con. Với lý do các căn hộ không có diện tích rộng và giá bất động sản quá cao khiến nhi?u gia đình chuyển ra sống ngoài ngoại ô. Nhưng sự lựa ch?n này kéo theo những bất lợi trong việc phải di chuyển vào thành phố hàng ngày để làm việc. Những ngư?i quyết định ở lại cũng đối mặt với một số khó khăn: dân số quá đông, tâm lý stress của đô thị, ô nhiễm, giá cả đắt đ?, kém an ninh... V? thâm niên các tòa nhà, vào năm 1999, 55,4 % được xây trước 1949, và chỉ có 3,8 % xây sau 1990[85].

Toàn bộ thành phố, số lượng nhà ở xã hội chiếm hơn 17 %. Thế nhưng tỷ lệ này có sự không đồng đ?u, mư?i quận đầu tiên thuộc khu vực lịch sử trung tâm chỉ chiếm 6 % số nhà ở xã hội của thành phố. Trong khi đó ba Quận 13, 1920 chiếm tới 47 % với con số 96.000 và năm 1999. Nếu thêm vào đó các Quận 12, 14, 1518 thì có thể thấy vành đai phía nam và đông bắc chiếm tới 81 % số nhà ở xã hội của Paris[86].

Giá cả bất động sản ở Paris thuộc hàng cao nhất châu Âu và thế giới[87] góp phần làm cuộc sống ở thành phố này trở nên đắt đ?. Vào năm 2007, giá nhà trung bình các chung cư cao cấp đạt tới 12.600 euro một mét vuông[88],[89]. Ở một số khu phố sang tr?ng, con số còn có thể cao hơn nữa.

[sửa] Nhập cư

Hiệu McDonald's ở khu phố Tàu thể hiện sự giao thoa văn hóa
Hiệu McDonald's ở khu phố Tàu thể hiện sự giao thoa văn hóa

Như đã được ghi trong hiến pháp, các cuộc đi?u tra dân số ở Pháp không đặt những câu h?i thuộc v? chủng tộc hay tôn giáo, nhưng có thu thập những thông tin v? nơi sinh. Qua những con số này, có thể thấy Paris là nơi đa văn hóa nhất toàn châu Âu. Theo cuộc đi?u tra năm 1999, có 19,4 % dân số của thành phố sinh ngoài lãnh thổ chính quốc Pháp[90]. Cũng theo số liệu của cuộc đi?u tra, 4,2 % dân vùng Paris là những ngư?i mới nhập cư, tới Pháp trong khoảng từ 1990 đến 1999, trong đó nhi?u nhất là từ Trung Quốcchâu Phi[91]. Mặt khác, vùng Paris có khoảng 15 % là tín đồ Hồi giáo[92],[93].

Làn sóng nhận cư quốc tế đầu tiên v? Paris được bắt đầu từ năm 1820 với các nông dân ?ức tới, chạy trốn cuộc khủng hoảng nông nghiệp. Nhi?u làn sóng nhập cư khác kéo dài liên tục tới tận ngày nay: những ngư?i ?Do Thái vào thế kỷ 19, những ngư?i Nga sau cách mạng Nga năm 1917, những ngư?i dân thuộc địa trong Thế chiến thứ nhất, những ngư?i Ba Lan đến vào khoảng th?i gian giữa hai cuộc thế chiến, ngư?i Tây Ban Nha, Bồ ?ào NhaBắc Phi những năm 1950 tới 1970, những ngư?i Do Thái sau khi một số nước Bắc Phi dành độc lập, những ngư?i châu Phi tiếp tục tới Pháp, và những ngư?i châu ? tới sau chiến tranh Việt Nam[94].

Những ngư?i nhập cư cư trú tập trung thành những khu vực riêng: Quận 1819 gồm những ngư?i gốc Phi bắc Sahara, đặc biệt khu Château Rouge và khu Belleville với cả cộng đồng Bắc Phi và cùng Trung Hoa. Quận 13 là nơi có Chợ Tàu, « chinatown » lớn nhất châu Âu. Khắp vùng Île-de-France, cũng có những ngư?i nhập cư còn sống rải rác[95].

Những ngư?i dân nhập cư, hoặc có gốc nhập cư, không ít đã dành được những thành công. Vào đầu thế kỷ 20, nhà văn Marcel Proust và nghệ sĩ Sarah Bernhardt đ?u mang một phần máu Do Thái và đã nổi danh khắp thế giới. Tiếp đó là nhà hóa h?c ngư?i Ba Lan Marie Curie, sau khi mất được đưa vào điện Panthéon và in trên t? 500 franc của Pháp. Tổng thống Pháp hiện nay Nicolas Sarkozy tuy sinh ở Paris nhưng là ngư?i gốc Hungary. Còn thị trưởng Paris Bertrand Delanoë sinh tại Tunisia và có bố là ngư?i Tunisia.

[sửa] Ngư?i vô gia cư

Một ngư?i vô gia cư ở Paris
Một ngư?i vô gia cư ở Paris

Cũng như tất cả các đô thị lớn, một số lượng không nh? ngư?i vô gia cư sống trên đư?ng phố của Paris. Vào năm 2005, theo ước tính của viện INSEE, thành phố có khoảng 8.000 ngư?i vô gia cư. Nếu so sách với một vài thành phố lớn khác thì số lượng ngư?i vô gia cư ở Paris không cao. Tại London, có 50.000 ngư?i vô gia cư trên tổng số 7 triệu dân. Tại Berlin, các con số ước tính rất chênh lệch, từ 4.000 tới 10.000 ngư?i trên tổng số 3,5 triệu dân. Còn vào năm 2006, con số ở New York là 33.000 ngư?i[96].

Ở Paris, 17 % ngư?i vô gia cư là nữ giới, và cứ 3 nữ vô gia cư thì một ngư?i kèm theo con nh?, có thể cùng bố đưa trẻ hoặc không. 57 % số ngư?i vô gia cư là độc thân, chỉ có 8 % có gia đình và một phần ba còn lại đã ly hôn hoặc góa. 24 % số đàn ông cư gia cư sinh trong vùng Île-de-France, 37 % sinh tại các vùng còn lại của Pháp và gần 40 % sinh ở nước ngoài. V? tuổi, 48 % các nữ vô gia cư trong khoảng từ 18 tới 30 tuổi. Con số đó ở nam giới là 22 %, và 57 % đàn ông vô gia cư trong khoảng 31 tới 50 tuổi. Với đi?u kiện sống kém, nhi?u ngư?i vô gia cư gặp các vấn đ? v? sức kh?e, cả thể chất lẫn tâm lý. 15% có vấn đ? liên quan tới rượu, 20 % có vấn đ? v? thể chất và 7% v? tâm lý. 59 % nam và 78 % nữ vô gia cư có ăn trưa vào tất cả các ngày, chủ yếu là bánh mỳ kẹp. Còn 16% nam và 10% nữ không có bữa trưa nào vào tuần của cuộc đi?u tra[97].

Nhi?u tổ chức xã hội tham gia vào việc giúp đỡ những ngư?i vô gia cư. Nhà th? Saint-Eustache giúp đỡ các bữa ăn miễn phí. Les Enfants de Don Quichotte (Những đứa con của Don Quichotte), được thành lập năm 2006, đã bố trí những chiếc l?u đ? cạnh kênh Saint-Martin giúp đỡ những ngư?i vô gia cư trong mùa đông.

[sửa] Y tế

Paris là một trong những thành phố của Pháp có tỷ lệ bác sỹ cao nhất, cả đa khoa và chuyên khoa. Vào năm 2005, toàn Paris có 5.840 bác sĩ đa khoa. Con số đó ở cả Seine-Saint-DenisVal-d'Oise là 3.349, mặc dù tổng dân số hai tỉnh này cao hơn Paris[98].

Trong những bệnh viện của thành phố, một số được thành lập từ rất lâu. Hôtel-Dieu de Paris do Thánh Landry, giáo mục của Paris, lập ra vào năm 651. Hôtel-Dieu de Paris là biểu tượng của lòng từ thiện của thành phố, và là bệnh viện duy nhất ở đây cho tới tận thế kỷ 12[99]. Bệnh viên Quinze-Vingts do vua Saint Louis lập ra năm 1260 để đón những ngư?i mù của Paris, hiện nay ở số 28 phố Charenton, quận 12. ?iện Invalides được bắt đầu xây dựng vào năm 1671 cũng là một bệnh viện cho thương binh. Ngày nay, dù trở thành một công trình nổi tiếng, nó vẫn còn giữ chức năng này.

Phần lớn các bệnh viện của Paris đ?u thuộc AP-HP (Assistance Publique - Hôpitaux de Paris, cơ quan v? y tế công cộng của Paris từ năm 1849) và chính quy?n thành phố. AP-HP, với vai trò trung tâm bệnh viện vùng cho cả Paris và Île-de-France, có tới 90.000 nhân viên[100].

[sửa] Tôn giáo

?ịa hạt tổng giáo mục Paris là một trong hai mươi ba địa hạt tổng giáo mục của Pháp. Là giáo khu từ thế kỷ 3, Paris được thiết lập thành địa hạt tổng giáo mục vào ngày 20 tháng 10 năm 1622. Tổng giáo mục hiện nay là hồng y André Vingt-Trois. Vào năm 2005, thành phố bao gồm 106 giáo khu, đón tiếp những tín đồ và hội truy?n giáo nước ngoài. Cũng năm 2005, toàn Paris có 730 linh mục, 2.500 tu sĩ và 220 tu viện (140 cho nữ và 80 cho nam)[101].

Ở Paris có 15 giáo sở thuộc Giáo hội Cải cách Pháp[102], và 10 giáo sở thuộc Giáo hội Luther Pháp[103].

Nhà th? Hồi giáo Paris là nhà th? Hồi giáo lớn nhất nước Pháp. Nằm trong khu phố La Tinh, thuộc Quận 5, nhà th? Hồi giáo này được khánh thành vào ngày 15 tháng 7 năm 1926[104]. Trong nội thành Paris còn rất nhi?u nhà th? Hồi giáo khác và ở Quận 10 cũng có một trung tâm văn hóa Hồi giáo. Viện thế giới Ả Rập cũng là một địa điểm quan tr?ng v? văn hóa Ả Rập, Hồi giáo.

Chùa Vincennes nằm trong rừng Vincennes, b? nam hồ Daumesnil, trong một tòa nhà cũ của triển lãm thuộc địa từ năm 1931. Tại khu phố TàuQuận 13 cũng có hai ngôi chùa khác. Trong vùng Île-de-France cũng có khoảng 10 ngôi chùa của ngư?i Việt[105].

Toàn thành phố có 96 nhà th? Do Thái giáo[106].

[sửa] Giáo dục

[sửa] Giáo dục tiểu h?c và trung h?c

Trong năm h?c 20052006, Paris có 263.812 h?c sinh theo h?c tại các trư?ng công, gồm 135.570 ở bậc h?c thứ nhất và 138.527 ở bậc h?c thứ hai. Ở các trư?ng tư có 138.527 h?c sinh theo h?c. Vào năm 2007, toàn thành phố có 881 cơ sở giáo dục công gồm: 323 trư?ng mẫu giáo, 334 trư?ng tiểu h?c, 6 cơ sở đặc biệt - trư?ng trong bệnh viện, 110 trung h?c cơ sở, 72 trung h?c phổ thông, 34 trung h?c ngh? và 2 trung h?c thực nghiệm. Thêm vào đó là 256 cơ sở giáo dục tư: 110 trư?ng mẫu giáo và tiểu h?c, 1 trư?ng đặc biệt, 67 trung h?c cơ sở, 73 trung h?c phổ thông và 5 trung h?c ngh?[107].

Trong giáo dục bậc trung h?c, những trư?ng như Louis-le-Grand, Henri-IV và Trung h?c quốc tế Saint-Germain-en-Laye là những trư?ng danh tiếng, từng là nơi nhi?u vĩ nhân của Pháp theo h?c.

[sửa] Giáo dục đại h?c

Bài chi tiết: Giáo dục đại h?c Île-de-France

Là thành phố thủ đô, Paris tập trung nhi?u trư?ng đại h?c lớn và có số lượng sinh viên đông đảo. Từ thế kỷ 12, Paris đã là một trong những trung tâm tri thức lớn nhất của châu Âu, đặc biệt v? thần h?c và triết h?c. Mang tính biểu tượng, năm 1200 được coi là năm thành lập ?ại h?c Paris, dựa theo một pháp điển của vua Philippe II. Trư?ng đại h?c với các khoa xuất hiện nằm tại đồi Sainte-Geneviève, thuộc khu phố La Tinh ngày nay. Từ thế kỷ 18, các trư?ng đặc biệt được mở ra cho một số ngành ngh?. ?ó chính là nguồn gốc của các trư?ng lớn hiện nay. Trư?ng Bách khoa và Trư?ng Sư phạm được thành lập vào th?i kỳ Cách mạng Pháp. Vào thế kỷ 19, ?ại h?c Paris hiện đại hợp thành bởi sáu khoa luật, y, dược, văn, thần h?c và khoa h?c.

Thế kỷ 20, số lượng sinh viên tăng nhanh. Sau cuộc nổi loạn của sinh viên năm 1968, ?ại h?c Paris được tổ chức lại thành 13 trư?ng độc lập: Paris I tới Paris XIII như hiện nay. Một số trư?ng đại h?c được mở ở ngoại ô vào những năm 1960, sớm nhất là ?ại h?c Paris X Nanterre năm 1964. Cùng vào khoảng th?i gian đó, nhi?u trư?ng lớn đã r?i trung tâm, tìm những khu vực rộng hơn ngoài ngoại thành. Cao nguyên nh? Saclay ở phía nam thành phố trở thành một địa điểm quan tr?ng. Trên một diện tích đủ rộng, nơi đây tập trung ?ại h?c Paris XI, các trư?ng lớn như Bách khoa, Trư?ng thương mại HEC cùng các phòng thí nghiệm công và tư.

Khu h?c xá Jussieu
Khu h?c xá Jussieu

Năm 1991, bốn đại h?c khác được thành lập ở vùng Île-de-France. Khác với các đại h?c gần thành phố, chữ « Paris » không xuất hiện trong tên các trư?ng này. Trong những năm 1990, đã có những ý định giảm bớt sự tập trung này như chuyển Trư?ng Hành chính quốc gia ENA v? Strasbourg và Trư?ng Sư phạm v? Lyon. Nhưng cuối cùng, các trư?ng quan tr?ng nhất vẫn ở lại Paris.

Ngày nay, nội thành Paris vẫn là trung tâm chính của các đại h?c Pháp. Các trư?ng đại h?c Paris từ I đến VII đ?u ở trong nội ô, mặc dù Paris-Dauphine nằm hơi lệch tâm. Có thể nhận thấy bên tả ngạn nhi?u trư?ng đại h?c hơn hẳn. Khu phố La Tinh là một địa điểm quan tr?ng với sự hiện diện của Sorbonne và Trư?ng Sư phạm (École normale supérieure), Trư?ng M? (École des Mines) cùng Collège de France... Tại Quận 13, gần thư viện François-Mitterrand, nhi?u tòa nhà đại h?c mới được xây thêm cách đây không lâu. Chính quy?n thành phố Paris cũng tự duy trì bảy cơ sở giáo dục bậc đại h?c. Bốn trong số đó dành cho nghệ thuật ứng dụng, đặc biệt là trư?ng École Boulle v? nội thất và École Estienne v? h?a hình, thiết kế bìa sách. Ngoài ra còn hai trư?ng kỹ thuật và một trư?ng v? làm vư?n[108].

Năm 2004, toàn vùng Île-de-France có tổng cộng khoảng 600.000 sinh viên, chiếm hơn một phần tư số sinh viên ở Pháp[109]. Trong đó, một nửa sinh viên thuộc các trư?ng nội thành Paris[110]. Cơ quan v? đ?i sống sinh viên, CROUS của Paris có 600 nhân viên làm việc, với ngân sách 70 triệu euro. CROUS Paris quản lý 30 ký túc xá, 16 căng tin và 20 quán cà phê sinh viên cùng một trung tâm thể thao, một trung tâm văn hóa và một phòng triển lãm[111]. Cư xá đại h?c lớn nhất Paris là Cité internationale universitaire gồm 40 tòa nhà với 5.000 chỗ. Ngoài ra, các khu vực còn lại của Île-de-France do CROUS Créteil và CROUS Versailles quản lý.

Ngoài các ưu tiên, trợ cấp như ở toàn nước Pháp, các sinh viên ở vùng Île-de-France còn được hưởng một vài ưu tiên riêng, như giảm giá vé giao thông công cộng, xem phim... Ngược lại, đ?i sống sinh viên Paris cũng gặp nhi?u khó khăn: giá thuê phòng cao, tốn nhi?u th?i gian cho đi lại...

[sửa] Giao thông

Tramway T3
Tramway T3
Bài chi tiết: Giao thông Paris và Giao thông Île-de-France

Paris có một hệ thống giao thông công cộng đa dạng và dày đặc. Ngoài mạng lưới xe buýt phủ khắp thành phố và ngoại ô, ở Paris còn có thể kể ra 16 tuyến tàu điện ngầm (đánh số 1 đến 14 và hai tuyến 3bis, 7bis), 5 tuyến RER (từ A đến E) và 4 tuyến tàu điện (T1 đến T4).

?ể nối li?n Paris với các thị trấn ngoại ô, ngoài hệ thống chính RER, từ sáu nhà ga lớn Saint-Lazare, Gare du Nord, La Défense, Gare de l'Est, Montparnasse, Lyon còn có 15 tuyến đư?ng sắt Transilien t?a đi khắp vùng Île-de-France. Bốn trong số đó cũng là các nhà ga của TGV, tàu thư?ng nối Paris với tất cả các thành phố của Pháp và châu Âu.

Giống như tất cả các đô thị lớn khác trên thế giới, cộng thêm lý do là một thành phố cổ, giao thông đư?ng bộ Paris khá khó khăn và dày đặc xe cộ mặc dù các đại lộ rộng rãi nh? những cải tạo của Haussmann từ thế kỷ 19. Thành phố được bao b?c bởi một hệ thống các đại lộ vành đai và từ các cửa ô của Paris, các đư?ng quốc lộ, xa lộ t?a đi khắp vùng và tới các tỉnh. Việc đậu xe ở Paris cũng không đơn giản và hầu như ở tất cả các phố đ?u phải trả ti?n. Còn mạng lưới taxi, đầu 2007 toàn thành phố có khoảng 15.500 chiếc và trung bình mỗi ngày phục vụ 200.000 chuyến[112].

Từ những năm cuối 1990, chính quy?n thành phố thực hiện chính sách khuyến khích giao thông công cộng và xe đạp. Cùng với các làn đư?ng được phép chạy chung với xe buýt, ở nhi?u phố những ngư?i đi xe đạp còn có làn đư?ng riêng, tổng cộng dài 371 km[113],[114]. Và tiếp theo RennesLyon, từ ngày 15 tháng 7 năm 2007, chính quy?n Paris đưa ra hệ thống dịch vụ xe đạp tự do với tên Vélib'. ?ây là mạng lưới xe đạp dày đặc nhất châu Âu, với 20.000 chiếc vào cuối 2007, 1.400 điểm đỗ trong Paris cách nhau trung bình 300 m[115].

Giao thông hàng không Paris có hai sân bay chính, Charles-de-Gaulle ở phía đông bắc và Orly ở phía nam. Sau London, Paris là thành phố châu Âu có lượng hành khách trung chuyển lớn nhất, 82,5 triệu và 2,24 triệu tấn hàng hóa trong 2006[116]. Nằm cách Paris 25 km, sân bay quốc tế Charles-de-Gaulle được nối với thành phố bởi đư?ng cao tốc, xe buýt và tuyến RER B. Tại sân bay cũng có một nhà ga với các tuyến tàuTGV tới các tỉnh. V? lượng máy bay hoạt động, năm 2006 Charles-de-Gaulle xếp thứ nhất châu Âu với 541.566 chuyến bay[117]. Orly vốn là sân bay chính của Paris trước khi xây dựng Charles-de-Gaulle. Ngày nay, ngoài tới các tỉnh của Pháp, Orly phục vụ các chuyến bay đến các thành phố của châu Âu, Trung ?ông, châu PhiCaribe. Ngoài ra, vùng Paris vẫn còn một vài sân bay nh? khác như Le Bourget, Beauvais mà các hãng hàng không giá rẻ vẫn thư?ng sử dụng.

[sửa] Thể thao

Một trận bóng bầu dục ở sân Stade de France, 2006
Một trận bóng bầu dục ở sân Stade de France, 2006

Thể thao cũng ghi nhi?u dấu ấn trong lịch sử thành phố Paris. Từ thế kỷ 12 đã xuất hiện môn jeu de paume, một trò chơi tương tự quần vợt. Trong th?i kỳ Cách mạng Pháp, môn thể thao này đã đi vào lịch sử với L?i tuyên thệ Jeu de paume, một sự kiện quan tr?ng.

Paris đã hai lần đăng cai Thế vận hội mùa hè vào năm 1900 và 1924. Ngoài ra, thành phố còn tranh cai tổ chức vào các năm 1992, 20082012 nhưng không thành công, lần lượt để l?t vào tay Barcelona, Bắc KinhLondon. Trong hai lần Pháp đăng cai Giải vô địch bóng đá thế giới vào 19381998, Paris đ?u là thành phố quan tr?ng. Trong đó năm 1998, đội tuyển Pháp đã giành chức vô địch tại sân Stade de France.

Paris còn là địa điểm của một trong những giải quần vợt quan tr?ng nhất: Giải Roland-Garros. ?ại lộ Champs-Élysées là chặng cuối của giải đua xe đạp nổi tiếng Tour de France. Thành phố có một số câu lạc bộ thể thao chính: Paris Saint-Germain môn bóng đá, Paris-Levallois Basket môn bóng rổ, Paris Handball môn bóng ném, Stade français CASG Paris môn bóng bầu dục.

Toàn Paris hiện nay có 360 địa điểm thể thao: 172 sân tennis; 131 phòng tập thể dục thuộc chính quy?n thành phố; 36 bể bơi đón 3,4 triệu lượt ngư?i năm 2006; 10 bể bơi trong trư?ng h?c; 32 sân vân động thuộc thành phố; hai địa điểm dành cho môn bơi thuy?n[118]. Những trư?ng đại h?c ở ngoại ô cũng có các khu thể thao riêng. Ngư?i dân Paris còn chơi một số môn đơn giản như bi sắt, c? vua tại các công viên, vư?n hoa.

Sân vận động Công viên các hoàng tử (Parc des Princes) của Paris được hoàn thành từ năm 1897 nằm ở phía tây nam thành phố, tới năm 1972 được xây dựng lại. Sân vận động này có sức chứa 45.500 chỗ ngồi, và là sân nhà của đội Paris Saint-Germain[119]. Khu thể thao liên hợp Paris-Bercy nằm ở Quận 12 được hoàn thành năm 1984. Ngoài các hoạt động thể thao, nó còn là nơi tổ chức nhi?u buổi hòa nhạc lớn[120]. Sân Stade Charléty ở Quận 13, có từ năm 1939 và được xây lại năm 1994, là nơi lý tưởng cho những ngư?i chơi thể thao của thành phố. Stade Charléty bao gồm một sân đi?n kinh 20.000 chỗ và một phòng đa thể thao với sức chứa 1.500 ngư?i[121]. Sân Stade de France được xây dựng cho Giải vô địch bóng đá thế giới 1998 có sức chứa 80.000 chỗ tại Saint-Denis, ngoại ô phía bắc Paris. Ngoài bóng đá, sân vận động này còn là địa điểm của các trận bóng bầu dục quan tr?ng.

Tại rừng Vincennes phía đông Paris còn có trư?ng đua Vincennes từ năm 1863. ?ây là nơi tổ chức một số giải đua ngựa như Prix de Paris, Prix de France, Prix d'Amérique...

[sửa] Quy hoạch đô thị

Grande Arche nhìn theo trục Axe historique
Grande Arche nhìn theo trục Axe historique
Trang trí mặt ngoại một tòa nhà phố Réaumur
Trang trí mặt ngoại một tòa nhà phố Réaumur

Khác với London từng chịu vụ h?a hoạn năm 1666 hay Lisbonne bởi động đất năm 1755, Paris chưa bao gi? bị phá hủy. Nh? đó hầu hết các tri?u đại của Pháp kể từ th?i Phục Hưng đ?u để lại những dấu ấn ở Paris. Những chứng tích của quá khứ vẫn còn in dấu ở các con phố, nhưng Paris vẫn là một thành phố đồng nhất và không ngừng hiện đại hóa.

Cách tổ chức của thành phố ngày nay phụ thuộc rất nhi?u vào quy hoạch của nam tước Haussmann dưới th?i ?ệ nhị đế chế. Haussmann đã vạch ra phần lớn những con đư?ng chính hiện nay, như đại lộ Saint-Germain, đại lộ Sébastopol... Trung tâm của thành phố Paris là khu Châtelet. Nhi?u đư?ng phố lớn và các tàu điện ngầm giao nhau ở đây. Khu vực trung tâm Paris khác biệt với nhi?u thành phố châu Âu khác bởi mật độ dân số dày đặc của nó. Chỉ riêng Manhattan của New York với mật độ 26.000 ngàn ngư?i trên một km² là có thể so sách với trung tâm Paris. Là thành phố được xây dựng hai bên b? sông, riêng trong nội ô Paris có tới 37 cây cầu bắc qua sông Seine. Chưa kể tới một số tuyến tàu điện ngầm chạy dưới lòng sông.

Có thể nhận thấy ở Paris, các công trình quan tr?ng, cả cổ và hiện đại, đ?u là những điểm nhấn trong quang cảnh của thành phố. Quy hoạch đô thị của Paris cho phép có thể ngắm nhìn các công trình này từ rất xa. ?ứng ở quảng trư?ng Italie, nhìn d?c theo đại lộ Gobelins có thể thấy điện Panthéon. Từ điện Panthéon nhìn d?c phố Soufflot v? phía vư?n Luxembourg sẽ thấy tháp Eiffel. Khu vực tốt nhất để ngắm nhìn tháp Eiffel là sân giữa của Palais de Chaillot, cạnh quảng trư?ng Trocadéro. Nếu đứng ở chân tháp Eiffel, bãi c? Champ-de-Mars, nhìn v? phía École militaire sẽ thấy tháp Montparnasse. ?ứng trước nhà th? Madeleine nhìn v? phía sông Seine sẽ thấy cột đá Obélisque ở giữa quảng trư?ng Concorde, và bên kia sông là Palais Bourbon. Từ điện Invalides nhìn d?c cầu Alexandre-III có thể thấy Grand PalaisPetit Palais ở hai bên đại lộ Winston-Churchill...

Nhưng trục quan tr?ng nhất trong quy hoạch đô thị Paris là Axe historique. Bắt đầu từ bức tượng vua Louis XIV cưỡi ngựa trong sân Napoléon của bảo tàng Louvre, trục này đi qua rất nhi?u công trình quan tr?ng của thành phố: Khải hoàn môn Carrousel, vư?n Tuileries, quảng trư?ng Concorde với cột đá Obélisque, đại lộ Champs Élysées, quảng trư?ng Étoile với Khải Hoàn Môn, đại lộ Grande Armée. Vào thập niên 1960, Axe historique còn được tiếp tục kéo dài tới tận khu đô thị hiện đại La Défense với công trình Grande Arche. Kim tự tháp kính Louvre không nằm trên đư?ng thẳng này, mà được xây lệnh sang một bên.

?ể bảo đảm mỹ quan, mặt ngoài các tòa nhà ở Paris phải tuân theo những quy định của thành phố, như v? màu sắc, kiểu cửa sổ... Và từ rất lâu, Paris đã có những quy định chặt chẽ v? độ cao các tòa nhà. Ngày nay, những tòa nhà mới có độ cao trên 37 mét phải có giấy phép đặc biệt và ở một vài quận giới hạn chi?u cao này còn nh? hơn thế[122]. Tháp Montparnasse được xây dựng vào năm 1973 là công trình cao nhất Paris và cả nước Pháp. Vị trí số một này sẽ còn được giữ tới năm 2010, khi nhi?u dự án nhà ch?c tr?i sẽ hoàn thành tại khu La Défense: Tour Phare 300 m, và Tour Generali sẽ đạt tới 318 m trở thành tòa nhà cao nhất Tây Âu.

[sửa] ?ư?ng phố và quảng trư?ng

Bài chi tiết: ?ư?ng phố Paris
?iện Panthéon nhìn từ phố Écoles
?iện Panthéon nhìn từ phố Écoles

Vào năm 1997, toàn Paris có tổng cộng 6.088 con đư?ng, cả công cộng và tư nhân. Phần nhi?u các con phố Paris đ?u bằng phẳng, ít dốc. Một số đư?ng phố, đại lộ không rải nhựa mà được lát bằng những viên đá nh?. Tương tự ở nhi?u thành phố khác, tầng một các tòa nhà mặt phố đ?u dành cho cửa hàng, quán cà phê... Một số hộp đêm, phòng chi?u phim chỉ có một cửa nh? trên phố, còn không gian chính nằm ở tầng ngầm.

Một số đư?ng phố Paris nổi tiếng mang những đặc trưng riêng. ?ại lộ Champs-Élysées gần Khải Hoàn Môn và là nơi tổ chức nhi?u sự kiện quan tr?ng, luôn tràn ngập khách du lịch. Phố Rivoli tấp nập ở trung tâm chạy d?c sông Seine ngang qua các công trình nổi tiếng Tòa thị chính, bảo tàng Louvre, Khải hoàn môn Carrousel, vư?n Tuileries. ?ại lộ Saint-Michel thuộc khu phố La Tinh đông đúc sinh viên. ?ại lộ Opéra gần nhà hát Opéra Garnier và khu mua sắm Galeries Lafayette, Printemps... là nơi có nhi?u văn phòng hàng không, du lịch. Phố Mouffetard cổ với các nhà hàng, quán cà phê và những cửa hàng truy?n thống. ?ại lộ Clichy là nơi tấp nập vào ban đêm với nhi?u quán cà phê, hộp đêm, trong đó có Moulin Rouge. ?ại lộ Montaigne là nơi có nhi?u cửa hiệu th?i trang cao cấp và khách sạn sang tr?ng Plaza Athénée...

Tổng cộng Paris có khoảng gần 500 quảng trư?ng lớn nh?. Trong số đó, quảng trư?ng lớn nhất là Concorde, rộng thứ hai tại Pháp - sau quảng trư?ng Quinconces ở Bordeaux - và thứ 11 thế giới. Ở giữa quảng trư?ng này là cột đá Obélisque, còn xung quanh quảng trư?ng còn có nhi?u tòa nhà quan tr?ng như ?ại sứ quán Hoa Kỳ, khách sạn Crillon. Concorde không chỉ là một quảng trư?ng đẹp và quan tr?ng của giao thông Paris, mà ở đây đã từng xảy ra nhi?u sự kiện lịch sử. Một quảng trư?ng nổi tiếng khác là Vendôme. Cũng như Concorde, Vendôme gắn với một vài sự kiện lịch sử. Nằm ở một khu vực trung tâm thành phố, Vendôme không có diện tích rộng. Nơi đây có sự hiện diện của Bộ Tư pháp, khách sạn Ritz danh tiếng và nhi?u cửa hàng xa xỉ. Một số quảng trư?ng khác cũng được biết đến như: quảng trư?ng Bastille là nơi có ngục Bastille bị phá hủy trong Cách mạng; quảng trư?ng Étoile, nối với đại lộ Champs-Élysées, là nơi có Khải Hoàn Môn; quảng trư?ng Trocadéro nằm ở khu phố sang tr?ng, là địa điểm chính ngắm tháp Eiffel...

Một điểm nữa tạo nên hình ảnh đặc trưng của các đư?ng phố Paris là sự góp mặt của cột Morrisvòi phun nước Wallace.

[sửa] Kiến trúc và các công trình

Các công trình nổi tiếng nhất Paris được xây dựng vào những khoảng th?i gian khác nhau và hầu hết tập trung hai bên b? sông Seine. Hai b? sông, từ cầu Sully tới cầu Bir-Hakeim, hợp thành một trong những dòng sông đẹp nhất chạy trong thành phố với các công trình được xếp hạng di sản thế giới của UNESCO. Có thể thấy, từ đông sang tây: nhà th? ?ức Bà, bảo tàng Louvre, điện Invalides, Palais Bourbon, cầu Alexandre-III, Grand Palais, bảo tàng Branly, tháp Eiffel, khu vực Trocadéro với Palais de Chaillot. Ngược lại v? phía đông, một số công trình khác hiện đại cũng đã được xây dựng như Bộ Tài chính, thư viện François Mitterrand, cung Bercy...

Trên đảo Île de la Cité tập trung các công trình cổ đặc trưng. Nhà th? ?ức Bà mang phong cách kiến trúc Gothic được xây dựng từ thế kỷ 12 tới thế kỷ 13. Nhà th? ?ức Bà được xem là tâm của Paris, trước sân có một điểm đánh dấu cây số 0 của nước Pháp. ?iện Conciergerie từng là cung điện của hoàng gia cho tới th?i vua Charles V vào nửa cuối thế kỷ 14. Một phần của công trình đã từng là nhà tù giam giữ các nhân vật nổi tiếng của chế độ phong kiến khi nổ ra Cách mạng Pháp. Sainte-Chapelle, xây dựng gần Conciergerie, được xem như một kiệt tác của kiến trúc Gothic. Cầu Pont Neuf, nằm ở điểm cuối phía tây của đảo, có từ cuối thế kỷ 16 và là chiếc cầu cổ nhất của Paris còn lại tới nay.

Các công trình phong cách cổ điển cũng ghi dấu ấn ở khu trung tâm Paris. Nhà th? nh? Sorbonne nằm ở giữa khu phố La Tinh được xây vào đầu thế kỷ 17. Cung điện hoàng gia Louvre cũng có từ thế kỷ 17 và được sửa chữa nhi?u lần sau đó. ?iện Invalides, với nóc mạ vàng được xây dựng vào cuối thế kỷ 17 theo lệnh của vua Louis XIV dành cho các thương binh và là nơi lưu trữ tro hài cốt của Napoléon từ năm 1840. ?iện Élysée được xây dựng và trang trí trong khoảng 1718 tới 1722 tiêu biểu cho phong cách cổ điển, hiện là dinh Tổng thống Pháp. ?iện Panthéon được xây dựng vào cuối thế kỷ 18 là nơi yên nghỉ của nhi?u vĩ nhân.

Những công trình xây dựng vào thế kỷ 19 rất phổ biến ở Paris: Khải Hoàn Môn, nhà hát Opéra Garnier, nhà th? Sacré-Cœur xuất hiện vào cuối ?ệ nhị đế chế. Tòa thị chính Paris hiện nay cũng được xây vào khoảng th?i gian 1874 tới 1882. Nhi?u công trình khác tiếp tục được xây dựng cho các Cuộc triển lãm thế giới như tháp Eiffel, Palais de Chaillot, Petit Palais, Grand Palais, cầu Alexandre-III...

Trong thế kỷ 20, rất nhi?u các kiến trúc sư danh tiếng tiếp tục ghi lại dấu ấn trên đư?ng phố Paris như: Guimard, Plumet[123] hay Lavirotte với phong cách Tân nghệ thuật, kế đó Mallet-Stevens, Roux-Spitz, Dudok, Henri Sauvage, Le Corbusier, Auguste Perret vào th?i kỳ giữa hai cuộc thế chiến. Kiến trúc đương đại của Paris được hiện diện bởi Trung tâm Pompidou, xây từ những năm 1970, là nơi có bảo tàng Nghệ thuật hiện đại và một thư viện quan tr?ng mở cửa cho công chúng; tháp Montparnasse cao 210 mét, một điểm nhấn trong quảng cảnh thành phố được xây từ 1969 tới 1972; Viện thế giới Ả Rập (Institut du monde arabe) được mở cửa vào năm 1987. Và đặc biệt là các công trình nh? tổng thống François Mitterrand như Grande Arche ở khu La Défense, nhà hát Opéra Bastille - thuộc nhà hát quốc gia cùng Opéra Garnier; Kim tự tháp kính Louvre - tác phẩm nổi tiếng của kiến trúc sư Ieoh Ming Pei; và thư viện François Mitterrand thuộc thư viện quốc gia nằm tại khu Paris Rive Gauche. Mới hơn cả, bảo tàng Branly v? nghệ thuật và văn minh châu Phi, ?, ?ại DươngMỹ thiết kế bởi Jean Nouvel hoàn thành 2006 tiếp tục làm đa dạng thêm kiến trúc của Paris.

[sửa] Nghĩa trang

Cả bốn nghĩa trang trong nội ô Paris hiện nay đ?u được xây dưới th?i Napoléon và đ?u nằm trên con đư?ng vành đai của thành phố khi ấy. Trước đó, nhi?u nhà th? của Paris cũng có những nghĩa địa riêng, nhưng cuối thế kỷ 18, chúng đã phải dẹp b? vì vấn đ? vệ sinh. Tất cả những hài cốt trong nghĩa địa của xứ đạo bị xóa b? năm 1786 đã được chuyển v? hầm khai thác đá bên ngoài cửa ô phía nam Paris, nơi hiện nay là quảng trư?ng Denfert-Rochereau, Quận 14. Ngày nay là Hầm mộ Paris[124].

Với sự mở rộng thành phố, các nghĩa trang th?i Napoléon hiện đ?u nằm trong nội thành Paris và trở thành những không gian xanh yên tĩnh. Père-Lachaise là nghĩa trang lớn nhất, và cũng là không gian xanh rộng nhất thành phố. Cả bốn nghĩa trang của Paris: Père-Lachaise, Montparnasse, PassyMontmartre đ?u là nơi yên nghỉ của rất nhi?u danh nhân, không chỉ ngư?i Pháp mà còn nhi?u vĩ nhân nước ngoài đã tới sống và mất ở Paris. Père-Lachaise là một trong những nghĩa trang nổi tiếng nhất thế giới, với các ngôi mộ của Balzac, Chopin, Molière, La Fontaine, Marcel Proust, Oscar Wilde hay Sarah Bernhardt... đã thu hút rất nhi?u du khách tới thăm.

Một số nghĩa trang mới khác nằm ngoài ngoại ô được xây dựng và đầu thế kỷ 20. Trong đó lớn nhất là các nghĩa trang Saint-Ouen, Pantin, Ivry và Bagneux.

[sửa] Công viên và vư?n

Bài chi tiết: Không gian xanh Paris

So với các thủ đô khác ở châu Âu, Paris là thành phố có mật độ không gian xanh thấp. Ngoài hai khu rừng BoulogneVincennes nằm ngay bên cạnh thành phố, Paris có khoảng 20 công viên và 20 khu vư?n cùng các nghĩa trang được trồng cây xanh. Nghĩa trang Père-Lachaise chính là không gian xanh lớn nhất trong thành phố.

Vư?n Paris, nổi tiếng hơn cả là hai khu vư?n cổ TuileriesLuxembourg. Vư?n Tuileries có từ thế kỷ 16, nằm ở bên phải sông Seine, gần viện bảo tàng Louvre. Cung điện Tuileries từng ở đây đã bị đốt vào năm 1871. Vư?n Luxembourg nằm ở b? trái sông Seine, thuộc v? lâu đài được xây cho hoàng hậu Marie de Médicis khoảng năm 1625. Cũng vào thế kỷ 17, Vư?n bách thảo, do bác sĩ Guy de La Brosse của Louis XIII, tạo nên để trồng các cây thuốc rồi trở thành một vư?n công cộng của Paris.

Tới th?i ?ệ nhị đế chế, việc tạo ra các không gian xanh trở nên cần thiết cho một thành phố có dân số đang phát triển nhanh. Với sự chỉ đạo của kỹ sư Jean-Charles Alphand và h?a sĩ phong cảnh Jean-Pierre Barillet-Deschamps, các khu vư?n của Paris mới có được bộ mặt như hiện nay. Rừng Boulognerừng Vincennes, nằm ngoài Paris, được bố trí tôn tr?ng điểm cực Tây và điểm cực ?ông của nội thành thành phố. Một số khu vư?n khác trong trung tâm cũng được bố trí lại cùng các không gian thoáng đãng được mở ra ở các khu phố. Ở các quận mới hơn, một số công viên quan tr?ng được quy hoạch: Monceau, Montsouris, Buttes-Chaumont đ?u do kiến trúc sư của Napoléon III dự kiến.

Từ những năm 1980, nhi?u khu vực mang các chức năng khác được cải tạo thành không gian xanh. Theo thiết kế của kiến trúc sư Bernard Tschumi, một khu vực lò mổ cũ đã trở thành công viên La Villette - công viên lớn nhất trong nội ô Paris hiện nay. Tiếp tục, trong những năm 1990 là công viên Bercy, công viên Belleville cùng một số khác. Kế đến là những khu vư?n gia đình hoặc giáo dục nằm bên vành đai d?c tuyến đư?ng sắt cũ Petite Ceinture. Vư?n Éole hoàn thành năm 2007 là công viên quan tr?ng nhất của Paris vào những năm 2000.
 

[sửa] Paris, thủ đô văn hóa

Paris là một trong những trung tâm văn hóa của thế giới. ?ón tiếp 27 triệu lượt khách du lịch nước ngoài mỗi năm, Paris có hơn 100 bảo tàng, nhi?u nhà hát, các địa điểm đặc biệt - như đại lộ Champs-Élysées, đồi Montmartre, các công trình nổi tiếng - như Khải Hoàn Môn, tháp Eiffel... Thành phố còn là trung tâm của các cuộc hội thảo, hội nghị, là nơi đặt trụ sở của nhi?u tổ chức quan tr?ng. Paris cũng là trung tâm của th?i trang, của hàng xa xỉ phẩm, của ẩm thực và được mệnh danh là thành phố của tình yêu lãng mạn, cùng Venezia. V? giải trí, Paris là nơi tổ chức nhi?u hoạt động trình diễn đa dạng, sở hữu những nhà hát quan tr?ng và lâu đ?i cùng các rạp chiếu phim với một lượng công chúng đông đảo.

Nhi?u khu phố Paris mang những đặc trưng văn hóa riêng. Quận La Tinh là khu phố sinh viên, nơi có các trư?ng đại h?c từ nhi?u thế kỷ trước. Café de FloreSaint-Germain-des-Prés từng là ngôi nhà của Chủ nghĩa hiện sinh. ?ồi Montmartre ngoài nhà th? Sacré-Cœur nổi tiếng còn là trung tâm của hội h?a đầu thế kỷ 20. Tương tự, Montparnasse cũng từng thu hút nhi?u h?a sĩ, nhà văn nhưng ngày nay trở thành một khu phố văn phòng. Chợ Tàu Paris với sự hiện diện rõ nét của văn hóa phương ?ông là khu phố Tàu lớn nhất châu Âu. ?ại lộ Champs-Élysées và các phố gần đấy như George-V, Montaigne... là khu vực nhi?u cửa hàng th?i trang cao cấp, cùng các khách sạn đặc biệt sang tr?ng Plaza Athénée, George V...

Năm 1991, tổ chức UNESCO đã công nhận một số các công trình của Paris thuộc cụm hai bên b? sông Seinedi sản thế giới[125]. Các công trình biểu tượng của Paris trở nên nổi tiếng trên toàn cầu. Tại Las Vegas, một casino đã xây dựng các bản sao của tháp Eiffel, Khải Hoàn Mônnhà hát Opéra Garnier. Tương tự, ở ngoại ô Hàng Châu, những ngư?i Trung Quốc cũng xây dựng một Paris nh?.

[sửa] Bảo tàng

Paris và vùng Île-de-France là nơi có số lượng bảo tàng lớn và quan tr?ng nhất nước Pháp. ?t nhất một trăm bảo tàng tính riêng trong nội ô Paris, và thêm khoảng một trăm mư?i bảo tàng khác thuộc vùng Île-de-France. Không chỉ lớn v? số lượng, các bảo tàng này còn là nơi trưng bày rất nhi?u hiện vật, tác phẩm nghệ thuật quan tr?ng của thế giới.

Cổ nhất, diện tích lớn nhất là viện bảo tàng Louvre, nơi lưu trữ các tác phẩm nổi tiếng như Mona Lisa, tượng thần Vệ Nữ... Với kỷ lục 8,3 triệu lượt khách trong năm 2006, Louvre là bảo tàng nghệ thuật thu hút nhất thế giới. Tiếp đó phải kể đến những bảo tàng nghệ thuật khác: Orsay, sở hữu nhi?u bộ sưu tập trư?ng phái Ấn tượng, Hậu ấn tượng; bảo tàng Nghệ thuật hiện đại nằm trong trung tâm Pompidou. Ở ngoại ô, lâu đài Versailles, được xây dựng bởi vua Louis XIV là cung điện của các vị vua nước Pháp trong thế kỷ 17 và 18, cũng thu hút nhi?u triệu du khách mỗi năm. Với 18.000 m² dành cho bảo tàng Lịch sử Pháp, đây là bảo tàng lịch sử lớn nhất thế giới[126]. Mới sửa lại năm 2006, bảo tàng Branly (Musée du quai Branly) v? nghệ thuật và văn minh châu Phi, châu ?, châu ?ại Dương, châu Mỹ cũng là một bảo tàng quan tr?ng với 2.175.000 lượt khách thăm vào năm 2007. Bên cạnh đó còn có những bảo tàng dành riêng của các nghệ sĩ tên tuổi như bảo tàng Picasso, không gian Dalí, bảo tàng Rodin, bảo tàng Eugène Delacroix.

Ngoài nghệ thuật và lịch sử, thành phố Paris cũng có nhi?u bảo tàng v? lĩnh vực khác như bảo tàng Th?i trang (Musée de la Mode et du Textile), bảo tàng Bưu điện (Musée de la Poste), bảo tàng Con ngư?i (Musée de l'Homme), bảo tàng Hàng hải (Musée national de la Marine), bảo tàng Ti?n tệ (Musée de la Monnaie de Paris), bảo tàng Phục Hưng (Musée national du Moyen Âge), bảo tàng Vũ khí (Musée de l'armée), bảo tàng ?iện ảnh (Cinémathèque française - Musée du Cinema)... Một số công trình quan tr?ng như Palais Bourbon, Palais de Chaillot, Petit Palais, Grand Palais, Opéra Garnier... cũng đ?u có những không gian bảo tàng.

Các bảo tàng nổi tiếng nhất của Paris đ?u là bảo tàng quốc gia, thuộc v? Nhà nước Pháp. Một số bảo tàng thuộc v? các bộ, như bảo tàng Vũ khí trong Hôtel des Invalides và bảo tàng Hàng không Bourget thuộc v? Bộ Quốc phòng Pháp. Một số khác thuộc Viện Pháp - Institut de France, và có cả các bảo tàng tư nhân. Chính quy?n thành phố Paris quản lý mư?i bốn bảo tàng, trong đó có một số nổi tiếng như bảo tàng Carnavalet v? lịch sử Paris, nhà tưởng niệm Victor Hugo, Hầm mộ Paris. Nhi?u triển lãm được tổ chức ở những địa điểm này[127].

[sửa] Thư viện

Thư viện Sainte-Geneviève
Thư viện Sainte-Geneviève

Paris sở hữu một số lượng thư viện lớn và phần nhi?u đ?u mở cửa tự do cho công chúng. ?ược lập từ thư viện tư của Hồng y Jules Mazarin, Mazarine là thư viện cho công chúng cổ nhất Paris, bắt đầu từ năm 1643. Một thư viện cổ quan tr?ng khác là Sainte-Geneviève nằm cạnh Panthéon với hai triệu cuốn sách.

Thư viện quốc gia Pháp được nằm chủ yếu ở Paris, với hai địa điểm chính: « Richelieu » ở Quận 2 và « François-Mitterrand » ở Quận 13. Trong đó « Richelieu » là thư viện cổ, nh? hơn, nằm ở trung tâm, còn « François-Mitterrand » là một công trình kiến trúc hiện đại gồm bốn tòa nhà cao tầng ở khu Paris Rive Gauche. ?ây là nơi lưu trữ tư liệu quan tr?ng bậc nhất thế giới với khoảng 30 triệu cuốn sách gồm nhi?u phiên bản gốc giá trị. Cơ sở này trở thành nơi lưu trữ hợp pháp của nước Pháp kể từ tri?u vua François ?ệ nhất.

Chính quy?n thành phố Paris quản lý 55 thư viện phổ thông[128] và khoảng 10 thư viện chuyên đ?[129], là những nơi công chúng có thể tự do mượn tài liệu. Trong số đó có một vài thư viện được nhi?u ngư?i biết tới như thư viện Lịch sử Paris, khánh thành năm 1871, nơi lưu trữ một triệu cuốn sách, ảnh, bản đồ liên quan tới lịch sử thành phố. Hoặc thư viện điện ảnh François-Truffaut với nhi?u tài liệu điện ảnh quan tr?ng[130]. Ngược lại với Thư viện quốc gia Pháp hay thư viện Mazarine, các thư viện của chính quy?n thành phố đ?u miễn phí, kể cả các thư viện chuyên đ? có thể cấm vị thành viên. Những sách, tạp chí, truyện tranh... được mượn tự do, còn các đĩa nhạc, video thì cần trả một số ti?n trung bình hàng năm. Còn có một số thư viện cho công chúng khác, như thư viện trong trung tâm Georges-Pompidou. Rất nhi?u thư viện của các đại h?c cũng mở cửa cho ngư?i ngoài.

Những cửa hàng sách có thể tìm thấy ở khắp Paris. Các siêu thị của Fnac, bên cạnh những mặt hàng máy tính, thiết bị hình ảnh, âm thanh... còn dành một không gian lớn cho sách, CD nhạc, DVD phim. ?ại lộ Saint-Michel cũng có nhi?u cửa hàng sách, cả cho sách cũ lẫn sách mới. Còn d?c sông Seine, những hàng nh? bán sách cũ đã trở thành một phần của văn hóa Paris.

[sửa] Nhà hát, phòng trình diễn

Nhà hát kịch Pháp, thế kỷ 18
Nhà hát kịch Pháp, thế kỷ 18

Hai nhà hát lớn và được biết đến nhi?u nhất Paris là Opéra GarnierOpéra Bastille, được dành cho cả nghệ thuật cổ điển lẫn hiện đại. Ngoài ra, Paris còn có những nhà hát quan tr?ng khác như Nhà hát kịch Pháp (Comédie-Française), nhà hát Châtelet, nhà hát Odéon, nhà hát Mogador và Gaîté-Montparnasse. Một vài trong số này cũng gồm cả các phòng hòa nhạc. Nhà hát vẫn là địa điểm truy?n thống quan tr?ng của văn hóa Paris, kể cả hiện nay, nhi?u diễn viên nổi tiếng của nhà hát cũng đồng th?i là những ngôi sao trên truy?n hình.

Một số ca sĩ lớn của âm nhạc Pháp như Édith Piaf, Maurice Chevalier, Georges Brassens và Charles Aznavour đã từng tìm được danh tiếng ở những phòng hòa nhạc của Paris: Bobino, Olympia, La Cigale hoặc Le Splendid. Salle Pleyel là nơi tổ chức nhi?u buổi nhạc giao hưởng, Salle Gaveau dành cho nhạc thính phòng, Maison de Radio France có nhi?u buổi hòa nhạc lớn mang nhi?u phong cách khác. New Morning là một trong những phòng hòa nhạc luôn dành cho jazz, nhưng cũng có các thể loại nhạc khác. Le Zénith ở khu La Villette với 6.000 chỗ ngồi là một trong những phòng hòa nhạc lớn nhất thành phố. Ngoài ra khu thể thao liên hợp Paris-Bercy ở khu Bercy, sân vận động Stade de France ở Saint-Denis thuộc ngoại ô, và sân vận động Công viên các hoàng tử... cũng là những nơi tổ chức các buổi hòa nhạc quy mô lớn.

Các quán rượu và cà phê hòa nhạc từng là xương sống của giải trí Paris trước Thế chiến thứ hai. Ngay từ nửa đầu thế kỷ 19, ở Paris đã xuất hiện quán Moulin de la galette và cà phê hòa nhạc Élysée Montmartre cùng Château-Rouge. Các ban nhạc bình dân đã phục vụ cho đám đông nhảy múa tại quán nhạc Apollo hay khiêu vũ điệu Java tại vùng ngoại ô Temple và Belleville. Các câu lạc bộ th?i kỳ tiếp theo mở ra những sàn nhảy hiện đại, như Le Palace - đã đóng cửa - từng rất nổi tiếng ở Paris. Ngày nay, trong những câu lạc bộ ở Paris, như hộp đêm Queen, vũ trư?ng L'Étoile, Le Cab rất được yêu thích. Các sàn với nhạc điện tử như Le Rex, Batofar - một chiếc thuy?n được cải tạo thành hộp đêm, hay The Pulp cũng rất đại chúng với sự góp mặt của những DJ hàng đầu thế giới.

[sửa] Rạp chiếu phim

Giống như những thành phố khác ở châu Âu, phim Hollywood chiếm một thị phần lớn tại các rạp của Paris. Nhưng cùng với đó là những bộ phim Pháp, những phim châu Âu khác, và cả điện ảnh châu ? cũng được trình chiếu phổ biến. Năm 2007, Paris có hơn 374 phòng chiếu phim. Số lượt ngư?i xem đã đạt tới con số hơn 30 triệu vào năm 2004. Những tập đoàn như UGC, Gaumont sở hữu các rạp ở khắp Paris. Từ 1990, các công ty này xây dựng những trung tâm chiếu phim lớn, từ 10 đến hơn 20 phòng chiếu. UGC có ba trung tâm quan tr?ng, tại Les Halles, BercyLa Défense. Gaumont từng có một trong những phòng chiếu lớn nhất Paris ở quảng trư?ng Italie, nhưng đã đóng cửa. Phòng chiếu rộng nhất thành phố hiện nay là Le Grand Rex với 2.800 chỗ ngồi. Các phòng chiếu còn lại đ?u nh? hơn 1.000 chỗ. Các địa điểm như Opéra, Champs-Élysées, Montparnasse là những trung tâm của rạp chiếu phim.

Ngoài ra còn một hệ thống rạp nh?, nhưng cũng rất quan tr?ng, cho những phim độc lập. Những phòng chiếu này giới thiệu nhi?u bộ phim đa dạng, của cả những n?n điện ảnh nh?, với con số tới 450 đến 500 phim một tuần cho một bộ phận công chúng riêng[131].

[sửa] Quán cà phê, nhà hàng và khách sạn

Quán cà phê đầu tiên của Paris là Régence, được khai trương năm 1688 tại khu Palais-Royal. Sau đó một năm tới quán Café Procope được mở ở bên tả ngạn sông Seine. Rất nhanh chóng, các quán cà phê trở thành một phần của văn hóa Paris. Những quán cà phê vư?n từng rất phổ biến vào thế kỷ 18 và có thể xem như là các « terrasses de café » - cà phê th?m - đầu tiên của Paris. Vào thế kỷ 19, việc quy hoạch lại thành phố cùng sự xuất hiện các đại lộ lớn với vỉa hè tạo đi?u kiện thuận lợi cho những « terrasses de café ». Ngày nay, các quán cà phê có mặt ở khắp thành phố và từng khu vực lại có những đặc điểm riêng biệt: nơi tập trung nhi?u sinh viên như trong quận La Tinh, nơi chủ yếu cho khách du lịch như Montmartre, Champs-Élysées. Trong số đó có những quán nổi tiếng như Café Procope hay Café de Flore từng là nơi gặp gỡ của nhi?u danh nhân.

Nh? giao thông đư?ng sắt vào giữa thế kỷ 19 và cách mạng công nghiệp, nhi?u ngư?i từ các tỉnh tới thủ đô mang theo những phong cách ẩm thực khác nhau đã tạo nên những nhà hàng với các đặc sản riêng. Chez Jenny là một ví dụ cho ẩm thực vùng Alsace, Aux Lyonnais với các món từ Lyon... Sau đó, những ngư?i nhập cư tiếp tục giúp cho ẩm thực Paris thêm đa dạng với những món ăn của các dân tộc trên khắp thế giới như ?, Ấn ?ộ, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan... Không chỉ nổi tiếng v? ẩm thực, Paris còn có các nhà hàng đặc biệt khác như Maxim's - nhà hàng được trang trí theo phong cách Tân nghệ thuật từng là điểm đến của nhi?u nghệ sĩ nổi tiếng, hay nhà hàng Jules Verne nằm trên tầng hai của tháp Eiffel.

Vào cuối thế kỷ 19, Paris xây dựng thêm rất nhi?u khách sạn bởi những cuộc Triển lãm thế giới được tổ chức ở đây đã kéo theo một số lượng lớn du khách từ khắp nơi tới thành phố. Trong số đó có thể kể tới khách sạn Ritz trên quảng trư?ng Vendôme mở cửa năm 1898khách sạn Crillon trên quảng trư?ng Concorde năm 1909. Ngày nay hai khách sạn này được xếp vào hạng « palace » - đặc biệt sang tr?ng - cùng năm khách sạn khác: Bristol, George V, Meurice, Plaza AthénéeFouquet's Barrière. Ngoài ra, các tập đoàn lớn như Hilton, Accor cũng sở hữu các khách sạn ở khắp Paris.

[sửa] Lễ hội và các sự kiện

Duyệt binh ngày 14 tháng 7 trên đại lộ Champs-Élysées
Duyệt binh ngày 14 tháng 7 trên đại lộ Champs-Élysées

Ngoài các lễ hội chung với thế giới và nước Pháp, Paris có nhi?u lễ hội riêng được tổ chức trong suốt cả năm. ?ầu tháng một, Tết Nguyên ?án được những ngư?i châu ? tổ chức ở Quận 13. Tháng hai, lễ hội Carnaval của Paris diễu hành xuyên qua thành phố. Vào cuối tháng hai còn có triển lãm thế giới v? nông nghiệp. Triển lãm sách được tổ chức vào tháng ba và Hội chợ Paris cùng cuộc chạy marathon Paris vào tháng tư. ?ầu mùa hè, tháng sáu có cuộc diễn hành Gay pride của những ngư?i đồng tính.

Ngày quốc khánh Pháp 14 tháng bảy là dịp tổ chức duyệt binh truy?n thống tại đại lộ Champs-Élysées. Cũng vào cuối tháng này, Champs-Élysées là chặng đích của cuộc đua xe đạp Tour de France. Từ năm 2002, trong vòng hai tháng bảy và tám, thành phố tổ chức Paris-Plage, thay đổi một phần b? sông Seine thành bãi biển nhân tạo với cát và các ghế vải gập. Một triển lãm v? ô tô được tổ chức vào tháng mư?i các năm chẵn. Tháng mư?i còn có Hội chợ quốc tế nghệ thuật đương đại - FIAC, và từ 2002 thành phố bắt đầu tổ chức lễ hội Nuit Blanche - ?êm trắng - vào đêm thứ bảy đầu tiên của tháng với nhi?u hoạt động nghệ thuật. Thứ bảy tuần thứ hai tháng mư?i, tại Montmartre còn có lễ hội hái nho.

[sửa] Truy?n thông

Phần lớn những tập đoàn truy?n thông của Pháp đ?u nằm tại Paris và thành phố cũng có một số t? báo riêng. Le Parisien là nhật báo chính của Paris. 20 minutes và Métro là hai nhật báo miễn phí, không có nguồn gốc ở Paris, nhưng được nhi?u ngư?i dân thành phố đ?c. Những hành khách đ?c các t? báo mi?n phí trên phương tiện giao thông công cộng trở thành một hình ảnh hàng ngày của thành phố. V? văn hóa, có t? L'Officiel des spectacles đăng các chương trình, và t? Paris frimousse phát hành hàng tháng v? các hoạt động văn hóa cho thiếu nhi. Trước đây còn hai t? báo khác cũng đăng tin tương tự là Zurban và Le Pariscope.

Ngược lại với các vùng khác của Pháp, truy?n hình địa phương ở Paris không phát triển mạnh. Có thể thấy một số chương trình riêng cho Paris trên đài quốc gia France 3. Còn tại vùng Paris, Télif gần như là kênh duy nhất truy?n qua cáp. Truy?n qua ADSL hoặc vệ tinh có một số kênh địa phương: VOTV của Val-d'Oise, Télessonne của Essonne, TVM Est parisien của Seine-Saint-Denis, TVFil78 của Yvelines và RTV của Rosny-sous-Bois. Ngoài ra còn một vài kênh khác như Zaléa TV hay Teleplaisance.org...

[sửa] Paris, kinh đô thế giới

Trong lịch sử của mình, Paris là nơi sản sinh và được tìm đến của rất nhi?u nhân vật nổi tiếng cũng như các trào lưu tư tưởng, nghệ thuật. Vào thế kỷ 18, Paris là trung tâm của triết h?c Khai sáng với những Rousseau, Voltaire. Tới thế kỷ 19, các nhà văn vĩ đại của Pháp như Alexandre Dumas, Honoré de Balzac, Victor Hugo đ?u tìm tới Paris. Và cùng với đó là các tên tuổi đến từ nước ngoài như Chopin, Van Gogh, Heine. Cuối thế kỷ 19, thành phố trở thành thủ đô của hội h?a, với các trư?ng phái Ấn tượng, Hậu ấn tượng. Sang thế kỷ 20, Paris tiếp tục là trung tâm văn hóa của cả thế giới, là nơi sản sinh các nhà văn Marcel Proust, André Gide... và là điểm đến của Pablo Picasso, Marc Chagall, Henri Matisse, James Joyce, Ernest Hemingway, Albert Camus, Beckett. Một số nhà khoa h?c, chính trị gia quan tr?ng của thế kỷ 20 như Marie Curie, Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh... cùng từng sống và h?c tập ở Paris.

Paris còn là quê hương của điện ảnh, kinh đô của th?i trang và là một trung tâm xuất bản lớn. Từng là nơi diễn ra nhi?u hội nghị lịch sử quan tr?ng, thành phố hiện nay là nơi đặt trụ sở của nhi?u tổ chức thế giới như UNESCO, OECD.

[sửa] Trung tâm tri thức và văn h?c

Phòng khách của bà Geoffrin năm 1755
Phòng khách của bà Geoffrin năm 1755

Từ thế kỷ 12, Paris đã là một trong những trung tâm tri thức của thế giới Cơ ?ốc giáo. Việc chấp nhận phương ngữ Paris bởi tri?u đình khẳng định khuynh hướng này. Trong th?i kỳ Phục Hưng, Paris trở thành trung tâm của Chủ nghĩa nhân văn. Với quy?n lực dần được tập trung, thành phố cũng quy tụ các ưu việt của văn hóa Pháp. Khoảng giữa thế kỷ 17, Paris với các phòng khách văn h?c gần như trở thành trung tâm duy nhất của văn chương Pháp.

Thế kỷ 18, cùng với sự ảnh hưởng của văn hóa Pháp lên khắp châu Âu, Paris trở thành trung tâm văn hóa lớn nhất. Những phòng khách văn h?c Paris đạt tới th?i kỳ hoàng kim nh? những nhà văn, nhà triết h?c vĩ đại như Voltaire, Jean-Jacques Rousseau của Thế kỷ ánh sáng. Phòng khách của bà Geoffrin từ 1749 tới 1777 từng là nơi tụ h?p của Diderot, Voltaire, d'Alembert... cùng nhi?u nghệ sĩ, nhà văn khác.

Thế kỷ 19, là trung tâm tri thức, Paris là điểm đến của hầu hết những nghệ sĩ lớn của Pháp, như các nhà văn Honoré de Balzac, Victor Hugo, Alexandre Dumas... các nhà thơ Paul Verlaine, Arthur Rimbaud, Baudelaire... Không những thế, nhi?u trí thức tiến bộ của châu Âu như Chopin, Heine... cũng tìm đến thành phố này. ?ến cuối thế kỷ, Paris trở thành chiếc nôi của nhi?u trư?ng phái hội h?a. Năm 1872, bức tranh Ấn tượng mặt tr?i m?c (Impression soleil levant) của Claude Monet mở đầu cho Trư?ng phái ấn tượng, rồi được tiếp tục bởi 8 triển lãm khác ở Paris. Thành phố đã quy tụ các h?a sĩ nổi tiếng nhất đương th?i: Vincent van Gogh, Paul Cézanne, Auguste Rodin, Alfred Sisley, Paul Gauguin, Auguste Renoir, Camille Pissarro... Ngày 28 tháng 12 năm 1895, buổi chiếu phim đầu tiên của anh em Auguste và Louis Lumière tổ chức tại Salon Indien nằm dưới tầng hầm quán cà phê Grand Café ở Paris đánh dấu sự ra đ?i của điện ảnh.

Sang thế kỷ 20, các nhà văn, nghệ sĩ vẫn tiếp tục tìm tới Paris. Tại Montmartre, Georges BraquePablo Picasso khởi xướng chủ nghĩa Lập thể. Henri Matisse, Salvador Dalí, Marc Chagall đ?u tới Paris. Văn h?c đầu thế kỷ 20 cũng là th?i kỳ cách mạng của tiểu thuyết. Từ 1913 tới 1927, bộ tiểu thuyết ?i tìm th?i gian đã mất (À la recherche du temps perdu) của Marcel Proust lần lượt được phát hành ở Paris. Năm 1922, tiểu thuyết tiếng Anh Ulysses của James Joyce cũng được xuất bản bởi Sylvia Beach ở Paris, và sau đó rất khó khăn mới chính thức vào được Mỹ[132]. Không chỉ các nhà văn Pháp, rất nhi?u các nhà văn lớn nước ngoài tới Paris và trải qua một th?i kỳ sáng tạo ở đây, như Ernest Hemingway, Henry Miller, Gertrude Stein...

Sau Thế chiến thứ hai, khu phố Saint-Germain-des-Prés trở thành một trung tâm văn h?c với sự góp mặt của Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Boris Vian và Jacques Prévert[133]. Samuel Beckett sống ở Paris và viết bằng tiếng Pháp. Cuốn tiểu thuyết tiếng Anh Lolita của Vladimir Nabokov không phát hành được ở Mỹ, sau đó được xuất bản ở Paris. García Márquez cũng sống ở Paris một th?i gian khi quyết định ở lại châu Âu, chính là giai đoạn viết cuốn Gi? xấu (La mala hora). Một số chính khác quan tr?ng của các nước như Toàn quy?n Canada Adrienne Clarkson, Roméo LeBlanc, Thủ tướng Canada Pierre Elliott Trudeau, Tổng thống Tunisia Habib Bourguiba, Tổng thống Sénégal Abdou Diouf, Tổng thống Ấn ?ộ Rajendra Prasad... từng h?c ở Paris và tr? tại Cư xá đại h?c quốc tế. Sau th?i kỳ này, Paris mất dần vị trí độc tôn, nhưng vẫn là một trung tâm lớn v? văn h?c, tri thức và xuất bản của thế giới. Cho tới cuối thế kỷ 20, một số nhà văn danh tiếng như Cao Hành Kiện, Milan Kundera... vẫn tiếp tục tìm đến thành phố.

Ngày nay, hầu như các khu phố của Paris đ?u có những tấm biển ghi lại th?i gian lưu trú của các nhà văn danh tiếng. Các nghĩa trang của thành phố không chỉ là nơi yên nghỉ những nhân vật nổi tiếng ngư?i Pháp mà còn của rất nhi?u danh nhân thế giới.

[sửa] Trụ sở các tổ chức quốc tế

Không chỉ là thủ đô của Pháp, rất nhi?u các tổ chức quốc tế cũng có trụ sở tại Paris. Có thể kể tới: Tổ chức Giáo dục, Khoa h?c và Văn hóa Liên Hiệp Quốc - UNESCO, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD, Phòng Thương mại Quốc tế - ICC, Lực lượng ?ặc nhiệm Hành động Tài chính - FATF, Tổ chức Phóng viên không biên giới...

Ngoài ra Paris cũng là nơi tổ chức các hội nghị quan tr?ng. Nhi?u hiệp ước, hòa ước lịch sử đã được ký kết ở đây, như Hòa ước Versailles năm 1919, Hiệp định Paris năm 1973... Với 600.000 phục vụ cho mục đích hội h?p, Paris chiếm 5 % các hoạt động hội thảo, hội nghị của thế giới.

[sửa] Kinh đô th?i trang và xa xỉ phẩm

?ại cửa hàng Printemps
?ại cửa hàng Printemps

Paris vẫn thư?ng được xem là kinh đô th?i trang của thế giới. Ở đây tập trung những nhà mẫu nổi tiếng, các buổi trình diễn th?i trang quan tr?ng và những cửa hàng th?i trang cao cấp.

Từ thế kỷ 18, nước Pháp có thể xem như đã đi đầu châu Âu v? th?i trang khi nghệ thuật, kiến trúc, âm nhạc và các ăn mặc của tri?u đình Pháp tại Versailles ảnh hưởng tới khắp châu Âu. Những du khách tới Paris và mang v? các bộ quần áo rồi lại được những nhà may địa phương bắt chước. Tới khi đư?ng sắt và tàu thủy hơi nước giúp đi lại ở châu Âu được dễ dàng hơn, những phụ nữ giàu có đã tìm tới Paris để mua sắm quần áo. Những thợ may Pháp được xem như hàng đầu và cách ăn mặc của ngư?i Paris gây ảnh hưởng tới các nơi khác.

Tới th?i kỳ Belle Époque, qua các tạp chí, th?i trang Paris trở thành chuẩn mực cho tất cả phụ nữ ở các thành phố lớn trên thế giới. Giữa thế kỷ 19, th?i trang may đo cao cấp Haute couture xuất hiện ở Paris mặc dù cha đẻ của nó là Charles Frederick Worth, một nhà may ngư?i Anh. Sau đó, Haute couture được các nhà tạo mẫu ở Paris như Lanvin, Chanel, Dior... nối tiếp. Vào th?i kỳ hậu chiến, trong thập niên 1960, các nhà tạo mẫu của Paris thế hệ sau như Yves Saint Laurent, Pierre Cardin, Givenchy... tiếp tục ảnh hưởng lên toàn bộ ngành th?i trang.

Ngày nay, Haute couture được bảo vệ bởi luật và do Phòng Thương mại và Công nghiệp Paris (Chambre de Commerce et d'Industrie) quản lý. Dù phải chia sẻ với một vài thành phố lớn khác, nhưng Paris vẫn giữ vị trí kinh đô th?i trang. Các du khách vẫn tiếp tục tới đây để mua sắm. Tập đoàn kinh doanh hàng xa xỉ hàng đầu thế giới LVMH cũng có trụ sở ở Paris.

Một vài khu phố của Paris quy tụ nhi?u các cửa hàng đồ xa xỉ. Những hãng trang sức như Cartier, dinh van, Chanel... nằm ở quảng trư?ng Vendôme và phố Paix cạnh đó. ?ại lộ MontaigneQuận 8 với những cửa hàng của Chanel, Louis Vuitton, Gucci, Armani, Dior, Prada, Valentino, Nina Ricci... Phố Faubourg-Saint-Honoré có sự hiện diện của Hermès, Dolce & Gabbana... ?ầu đại lộ Champs-Élysées cũng có các cửa hàng của Cartier, Montblanc, Hugo Boss cùng Louis Vuitton đặc biệt thu hút du khách.

Paris cũng là trung tâm của mua sắm với các hệ thống cửa hàng nổi tiếng như Galeries Lafayette, Printemps... cùng các trung tâm thương mại Les Halles, La Défense... Vào thế kỷ 19, các cửa hàng hiện đại xuất hiện ở Paris như một ý tưởng cách mạng. Những đại cửa hàng, có sự kết hợp cả chi?u rộng và chi?u sâu, ghi giá cả rõ ràng, ổn định, hàng hóa đa dạng, trưng bày trong các không gian rộng, sang tr?ng... được đi tiên phong bởi Le Bon Marché vào năm 1852. Kế đó tới các đại cửa hàng La Samaritaine, Galeries Lafayette... Nhà văn Emile Zola trong tiểu thuyết Au Bonheur des Dames năm 1883 cũng đã miêu tả cuộc đ?i một nhân viên làm việc trong một đại cửa hàng. Ngày nay, Paris có tất cả 5 hệ thống đại cửa hàng: Galeries Lafayette, Printemps, Le Bon Marché, La Samaritaine và BHV.

[sửa] Paris với văn hóa và nghệ thuật

[sửa] Paris với văn h?c

Bí mật thành Paris của Eugène Sue
Bí mật thành Paris của Eugène Sue

Từ rất lâu, Paris đã là nguồn cảm hứng cho các nhà văn. Vào thế kỷ 15, François Villon đã viết v? Paris trong tác phẩm chính của mình: Le Testament. Trong thế kỷ 17thế kỷ 18, miêu tả một Paris hiện thực cũng thu hút các tác giả. Thế kỷ 19, các nhà văn Pháp có những bước tiến trong việc miêu tả thành phố với phong cách mang tính chính xác hơn. Dưới n?n Quân chủ tháng bảy, Honoré de Balzac phác h?a bức tranh chi tiết và hiện đại v? xã hội Pháp trong bộ tiểu thuyết đồ sộ Tấn trò đ?i (La Comédie Humaine). Gồm 137 tác phẩm[134] gồm cả tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận... Tấn trò đ?i với vô số các nhân vật ở Paris, là một bức tranh toàn cảnh miêu tả xã hội Pháp thế kỷ 19. Alexandre Dumas với Ba ngư?i lính ngự lâm cũng cho thấy một Paris khác trong lịch sử.

Trong khi Balzac quan tâm tới các tầng lớp cao của xã hội thì một vài tác giả khác lại chú ý đến tầng lớp bình dân của Paris. Bí mật thành Paris (Les Mystères de Paris) của Eugène Sue với những miêu tả v? tầng lớn dưới đáy xã hội đăng từng kỳ trên báo từ 1842 tới 1843 đã rất thành công. Hai mươi năm sau đó, một trong những tiểu thuyết gia lớn nhất của Paris, Victor Hugo đã xuất bản Những ngư?i khốn khổ (Les Misérables), tác phẩm đồ sộ miêu tả cuộc sống nhi?u mặt của thành phố, khiến Paris trở thành cổ điển. Một tiểu thuyết khác của Victor Hugo, Nhà th? ?ức Bà Paris (Notre-Dame de Paris) tiếp tục giúp độc giả khắp thế giới biết đến nhà th? nổi tiếng của thành phố.

Thành phố Paris sau những cải tạo của Haussmann được Émile Zola miêu tả trong bộ Les Rougon-Macquart với những tác phẩm Le Ventre de Paris, Nana, Au Bonheur des Dames. ?ầu thế kỷ 20, nhà hát Opéra Garnier của Paris trở thành bối cảnh chính của tiểu thuyết Bóng ma trong nhà hát (Le Fantôme de l'Opéra) của Gaston Leroux. Tác phẩm này đã có rất nhi?u chuyển thể, trong đó nổi tiếng như vở nhạc kịch The Phantom of the Opera của Andrew Lloyd Webber trên sân khấu Broadway năm 1986, rồi bộ phim cùng tên năm 2004. Trong những năm 1960, các nhà văn biến Paris thành một thành phố hoang đư?ng, đôi khi khôi hài và nực cư?i như trong Zazie dans le métro của Raymond Queneau. Hay một Paris đầy ắp nhữngkỷ niệm trong Je me souviens của Georges Perec. Nhà văn Colombia Gabriel García Márquez trong truyện ngắn Dấu máu em trên tuyết (El Rastro de tu Sangre en la Nieve) cũng cho thấy cái nhìn của một ngư?i nước ngoài cô đơn giữa Paris v? thành phố này.

[sửa] Paris với hội h?a và điêu khắc

Phố Paris, tr?i mưa, Gustave Caillebotte 1877
Phố Paris, tr?i mưa, Gustave Caillebotte 1877

Là thành phố quan tr?ng bậc nhất của hội h?a, Paris không chỉ là nơi khai sinh của những trư?ng phái Ấn tượng, Lập thể... mà nó còn là đ? tài của nhi?u h?a sĩ. Cho tới Chiến tranh tôn giáo vào cuối thế kỷ 16, không thấy tác phẩm nào thực sự v? Paris. Dưới th?i Henri IV và Louis XIII, thành phố được Jacques Callot cùng các h?a sĩ Hà Lan De Verwer và Zeeman thể hiện trên tranh, đặc biệt là hai bên b? sông Seine. Cung điện Louvre cũng trở thành một đ? tài rất được ưa thích vào thế kỷ 17.

Phải đến thế kỷ 19, đ?i sống thư?ng nhật của Paris mới thu hút các h?a sĩ. Jean-Baptiste Camille Corot dựng giá vẽ bên b? sông Seine; Claude Monet tái hiện không khí m? hơi nước của nhà ga Saint-Lazare; Auguste Renoir miêu tả cuộc sống khu phố Montmartre với các quán Moulin de la galette, Moulin Rouge; Camille Pissarro vẽ cầu Pont NeufAlfred Sisley với cảnh đảo Île Saint-Louis. Tiếp đó, vào cuối thế kỷ, Georges Seurat, Paul Gauguin, Paul CézanneVan Gogh tiếp tục tái hiện Paris trong các tác phẩm của mình. Còn Toulouse-Lautrec bị thu hút bởi các quán cabaret của thành phố.

Vào thế kỷ 20, Albert Marquet và Maurice Utrillo vẽ những khu phố ít may mắn của Paris. Henri Matisse, Maurice de Vlaminck và André Derain làm việc trong tòa nhà Bateau-LavoirMontmartre, còn Fernand Léger, Amedeo Modigliani, Marc Chagall, Ossip Zadkine và Chaïm Soutine sáng tác trong xưởng vẽ La Ruche ở Montparnasse. ?ó chính là th?i kỳ hoàng kim của trư?ng phái Paris.

V? điêu khắc, ở Paris thế kỷ 19 có thể kể tới François Rude với bức phù điêu La Marseillaise trên Khải Hoàn Môn, hay Jean-Baptiste Carpeaux với đài phun nước tại ?ài thiên văn. Tiếp đó, vô số các nghệ sĩ danh tiếng với những tác phẩm của mình đã trang hoàng cho Paris: Auguste Rodin, Aimé-Jules Dalou tại vư?n Luxembourgquảng trư?ng Nation, Antoine Bourdelle ở Palais de Tokyo, Aristide Maillol ở vư?n Tuileries và Paul Landowski với tượng Thánh Geneviève ở cầu Tournelle. Tân nghệ thuật cũng trang trí cho một số lối vào tàu điện ngầm của Paris nh? Hector Guimard. Nghệ thuật đương đại hiện diện ở Palais-Royal với các cây cột của nhà điêu khắc Daniel Buren hay ở Trung tâm Pompidou với đài phun nước Stravinski của Jean Tinguely và Niki de Saint Phalle.

[sửa] Paris với âm nhạc

Truy?n thống âm nhạc ở Paris bắt từ th?i Phục Hưng. Cuối thế kỷ 12 trư?ng phái âm nhạc đa âm điệu Notre-Dame ra đ?i. Dưới th?i François I, công nghệ in ấn mới xuất hiện đã giúp các ca khúc trở nên phổ biến. Th?i Louis XIV, nhi?u vở opera lớn được giới thiệu ở Paris. Nhạc sĩ gốc ? Jean-Baptiste Lully tới sống tại Paris và trở thành ngư?i phục trách âm nhạc của tri?u đình. Các vở ba lê của Lully được trình diễn tại cung điện Louvre từ năm 1655. Thế kỷ 18, Jean-Philippe Rameau làm nổi bật vai trò của dàn nhạc trong các vở opera-ba lê. Lịch sử Pháp cũng ảnh hưởng tới âm nhạc của Paris. Nhi?u bài hát đại chúng được sáng tác trong th?i kỳ Cách mạng Pháp, như Carmagnole trở thành ca khúc biểu tượng cho những ngư?i cách mạng vào năm 1792. Vào thế kỷ 19, Paris trở thành thủ đô của âm nhạc, các nghệ sĩ nổi tiếng nước ngoài đã tìm tới đây. Âm nhạc tiến đến Chủ nghĩa lãng mạn với những nhạc sĩ như Frédéric Chopin, Hector Berlioz hay Charles Gounod.

Âm nhạc cho khiêu vũ của Paris trong thế kỷ 19 nổi tiếng khắp thế giới. ?ược chơi ở các lễ hội Carnaval Paris, nó còn ảnh hưởng đến âm nhạc truy?n thống và các cả nhạc sĩ nước ngoài. Trong số đó có thể kể đến nhạc sĩ ngư?i ?o Johann Strauss I, ngư?i đã tới Pháp vào 1837. Sau năm 1870, Paul Dukas, Camille Saint-Saëns hay Georges Bizet đã làm nước Pháp trở thành bậc thầy của âm nhạc ba lê. Những cá tính dân tộc trong âm nhạc trở lại với Maurice Ravel và Claude Debussy - các nhạc sĩ ấn tượng. Cuối thế kỷ 19 cũng là th?i kỳ của các ca sĩ ứng tác và quán cabaret Le Chat noir ở Montmartre là một địa điểm biểu tượng. ?ầu thập niên 1880, « la divine » Sarah Bernhardt, ngư?i được xem như nữ nghệ sĩ nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử nghệ thuật[135], đã từ Paris đi lưu diễn khắp thế giới, tại London, Hoa KỳNga.

Trong Thế kỷ 20, những bài hát của Édith Piaf - ngư?i mang biệt danh « cô bé của Paris » - và cả Maurice Chevalier trở thành các ca khúc phổ biến ở Paris và còn được biết đến trên toàn thế giới. N?n ca nhạc Pháp còn rất nhi?u những bài hát v? Paris.

[sửa] Paris với điện ảnh

Opéra Garnier năm 1900, bối cảnh cho Bóng ma trong nhà hát
Opéra Garnier năm 1900, bối cảnh cho Bóng ma trong nhà hát

Với các công trình nổi tiếng và sự lãng mạn, Paris là một trong những thành phố được đưa lên màn ảnh nhi?u nhất. Ngoài các bộ phim quan tr?ng của điện ảnh Pháp, những đạo diễn thế giới cũng ch?n Paris làm bối cảnh cho những tác phẩm của mình.

Trong danh sách dài những bộ phim Pháp quay ở đây, có thể kể đến một vài tác phẩm lớn đã trở thành kinh điển. Hôtel du Nord (1938) là khung cảnh cho l?i thoại nổi tiếng của Arletty: « Atmosphère, atmosphère, est-ce que j'ai une gueule d'atmosphère? ». Tuy bộ phim được thực hiện trong trư?ng quay, nhưng khách sạn nh? bên con kênh Saint-Martin vẫn trở thành địa điểm yêu thích của những khán giả điện ảnh. La Traversée de Paris (1956) cùng Le Dernier Métro (1980) gợi lại những hiện thực v? th?i gian thành phố bị ?ức Quốc xã chiếm đóng năm 1943, và Paris brûle t-il? (1966) v? giải phóng Paris vào tháng 8 năm 1944. ?ầu thập niên 2000, Le Fabuleux Destin d'Amélie Poulain (2001) là câu chuyện hoang tưởng trong một Paris huy?n thoại và vĩnh hằng. Bộ phim này dành được những thành công quốc tế và khiến nhi?u ngư?i yêu điện ảnh tới Montmartre để tìm kiếm những địa điểm tượng trưng của các cảnh quay.

?iện ảnh thế giới cũng ghi dấu ấn với những bộ phim v? Paris. Năm 1951, bộ phim ca nhạc An American in Paris, nói v? một h?a sĩ trẻ ở Paris, đã thành công rực rỡ, đạt giải Oscar cho phim hay nhất. Năm 1957, Tình yêu ban chi?u (Love in the Afternoon) mở đầu với những cảnh Paris tràn ngập các đôi yêu đương và Audrey Hepburn gặp gỡ Gary Cooper tại khách sạn Ritz. Trong Last Tango in Paris năm 1972, Marlon Brando trong vai một ngư?i đàn ông trung niên gặp cô gái trẻ Maria Schneider tại một căn phòng sang tr?ng ở quận 16. Cuối thế kỷ 20 là bộ phim ca nhạc Everyone Says I Love You (1996) của đạo diễn Woody Allen.

?ầu những năm 2000, trong Moulin Rouge! (2001), Nicole Kidman vào vai cô ca sĩ Satine của quán Moulin Rouge yêu chàng nhà văn Christian do Ewan McGregor diễn. Năm 2004, Bóng ma trong nhà hát (The Phantom of the Opera) chuyển thể từ tiểu thuyết của Gaston Leroux lại giới thiệu một Paris của âm nhạc và sân khấu th?i Belle Époque. Da Vinci code (2006) tiếp tục ch?n Paris làm bối cảnh cho bộ phim. Mới nhất năm 2007, với vị trí kinh đô của ẩm thực, Paris lại xuất hiện trong bộ phim hoạt hình Mỹ Chú chuột đầu bếp (Ratatouille). Không chỉ những tác phẩm lãng mạn, cảnh Paris với tháp Eiffel bị phá hủy thư?ng xuyên được sử dụng trong các phim khoa h?c viễn tưởng.

Bên cạnh điện ảnh, các công trình nổi tiếng và đ?i sống thư?ng nhật của Paris là đ? tài sáng tác của nhi?u nhiếp ảnh gia danh tiếng. Bắt đầu từ Eugène Atget ở cuối thế kỷ 19[136], tiếp đó tới Robert Doisneau giữa thế kỷ 20, ngư?i đã chụp vô số các bức ảnh v? Paris, trong đó nổi tiếng hơn cả là Le Baiser de l'Hôtel de Ville (Nụ hôn trước tòa thị chính)[137].

[sửa] Ngư?i Việt ở Paris

Khải ?ịnh và Vĩnh Thụy ở Paris, 1922
Khải ?ịnhVĩnh Thụy ở Paris, 1922

Paris là một trong những thành phố tập trung nhi?u Việt ki?u nhất. Từ cuối thế kỷ 19, sau khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, ngư?i Việt dần xuất hiện ở thành phố này: những sinh viên tới Paris h?c, nhi?u ngư?i vì các lý do khác cũng tới đây. Suốt thế kỷ 20, trong những ngư?i Việt đã từng sống ở Paris, không ít đã trở thành các nhân vật đóng vai trò quan tr?ng trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Một số khác trở thành những trí thức, nghệ sĩ lớn.

?ầu thế kỷ 20, một số ngư?i Việt đi lính cho Quân đội Pháp tham gia Thế chiến thứ nhất rồi ở lại Pháp. Năm 1911, với tên Văn Ba, Hồ Chí Minh sang Pháp và đã sống nhi?u năm ở Paris. Tại thành phố này, cùng Phan Chu Trinh và Phan Văn Trư?ng, Nguyễn Thế Truy?n, Hồ Chí Minh đã viết Yêu sách của nhân dân An Nam đăng trên báo L'Humanité và tham gia nhi?u hoạt động đấu tranh khác.

Trong thập niên 1920, những gia đình giàu có tiếp tục gửi con cái sang Paris h?c. Trong số đó có cả Thái tử Vĩnh Thụy - ngư?i trở thành vua Bảo ?ại sau này - và Nguyễn Hữu Thị Lan - tức Nam Phương Hoàng hậu, vợ của Bảo ?ại. Công tử Bạc Liêu cũng từng h?c ở Paris và để lại một đứa con với một phụ nữ Pháp ở đây. Ngô ?ình Nhu h?c ở École nationale des chartes trước khi v? Việt Nam trở thành một chính khách quan tr?ng. Những sinh viên h?c ở Paris trở v? mi?n Bắc như Hoàng Xuân Hãn, Nhất Linh, Trần ?ức Thảo, Trần ?ại Nghĩa, Tạ Quang Bửu... đã tạo thành tầng lớp trí thức ưu tú của Việt Nam thế kỷ 20. Nhi?u trí thức, nghệ sĩ nổi tiếng của mi?n Nam cũng h?c ở thành phố này như Phạm Duy, Nguyên Sa, Phạm Tr?ng Cầu, Cung Trầm Tưởng, Lê Dân, Lê Mộng Hoàng... Và h? đã sáng tác nhi?u tác phẩm nổi tiếng v? Paris, như: Mùa thu không trở lại, Paris có gì lạ không em, Mùa thu Paris...

Một số sinh viên sau khi h?c xong đã ở lại Paris và cũng là những trí thức, nghệ sĩ danh tiếng như Trần Văn Khê, Lê Mộng Nguyên, Trần Thanh Vân, Nguyễn Quang Riệu, Trương Tr?ng Thi... Năm 1964, Tổng hội Sinh viên Việt Nam tại Paris được thành lập, được xem là tổ chức lâu đ?i nhất của ngư?i Việt ở nước ngoài và còn hoạt động liên tục đến nay. Những biến động chính trị ở mi?n Nam cũng khiến một vài nhân vật nổi tiếng r?i Việt Nam đến sống ở Paris như Bảy Viễn, Trần Lệ Xuân.

Quán Phở Mùi ở Chợ Tàu
Quán Phở Mùi ở Chợ Tàu

Nhưng phải từ sau năm 1975, cộng đồng ngư?i Việt ở Paris mới thực sự trở nên đông đảo. Những ngư?i Việt r?i Việt Nam sau chiến tranh, một số không nh? tới Pháp và định cư tại thủ đô. Không có thống kê chính xác v? số ngư?i Việt ở Paris và các con số ước tính cũng rất chênh lệch. Trong một bài viết trên báo Lao ?ộng, tác giả đưa ra con số khoảng 300.000 ngư?i[138]. Một bài báo trên Ngư?i Viễn Xứ cho rằng số Việt ki?u ở Paris khoảng 400.000 ngư?i[139]. Nhưng theo con số của Uỷ ban v? ngư?i Việt Nam ở nước ngoài thuộc Bộ Ngoại giao đưa ra trên tạp chí Quê Hương thì tổng số ngư?i Việt ở Pháp chỉ khoảng 250.000 ngư?i[140]. Nước Pháp cũng không có con số thống kê chính thức bởi theo hiến pháp, các cuộc đi?u tra dân số không đặt những câu h?i v? chủng tộc và tôn giáo. Nhưng v? nơi sinh, theo cuộc đi?u tra năm 1999, toàn bộ khu vực Paris có khoảng hơn 2 triệu ngư?i sinh ngoài lãnh thổ chính quốc Pháp, vì vậy con số Việt ki?u khó có thể tới 300 ngàn ngư?i.

Cũng giống với cộng đồng châu ? nói chung, những ngư?i Việt sống rải rác trong Paris và ngoại ô thành phố, nhưng Chợ Tàu ở quận 13 vẫn là nơi giao lưu quan tr?ng. Ngoài ra, v? tôn giáo, những ngư?i Việt có một giáo xứ ở quận 17 và một vài ngôi chùa nằm ở ngoại ô, như Trúc Lâm Thi?n ViệnVillebon-sur-Yvette khánh thành năm 1990[105]. Bên cạnh phần đông ngư?i Việt làm việc trong các công sở, một số không nh? khác mở các nhà hàng Việt Nam tập trung ở khu phố Tàu và rải rác khắp thành phố. Ngoài những trí thức trong các trư?ng đại h?c, một số đã thành công ở những lĩnh vực khác như các nhà tạo mẫu Barbara Bùi, Jean Dinh Van, đạo diễn Trần Anh Hùng, diễn viên Phạm Linh ?an...

Tới cuối thập niên 1990, sau th?i kỳ ?ổi mới, số lượng sinh viên Việt Nam đi h?c ở nước ngoài dần tăng nhanh. Với các chính sách hỗ trợ cho giáo dục, Pháp là một điểm đến phổ biến và quan tr?ng. Paris trở thành một trong những thành phố thu hút sinh viên Việt Nam nhất. Vào năm 2003, số sinh viên Việt Nam đang h?c tại Pháp là 4.000 ngư?i, trong đó một số không nh? sống ở Paris[138]. Rất nhi?u sinh viên từng đạt giải trong các kỳ thi Olympic toán, lý quốc tế đã tới h?c tại Trư?ng Bách khoa Paris. Với số lượng đông đảo, các sinh viên ở Paris đã tập hợp thành một vài tổ chức nh?. Ngày 26 tháng 3 năm 2004, Hội sinh viên Việt Nam tại Pháp - UEVF được chính thức thành lập tại trư?ng ?ại h?c Paris IV-Sorbonne[141]. Một vài sinh viên Việt Nam thế hệ này đã bắt đầu giành được thành công, như Ngô Bảo Châu nhận được giải Clay năm 2004...

[sửa] Thành phố kết nghĩa

Từ năm 1956, Paris trở thành thành phố sinh đôi cùng với duy nhất Roma của ?:

  • Tiếng Pháp: « Seule Paris est digne de Rome; seule Rome est digne de Paris »
  • Tiếng ?:      « Solo Parigi è degna di Roma; solo Roma è degna di Parigi »

     Có nghĩa:    « Duy nhất Paris xứng với Roma; duy nhất Roma xứng với Paris »

Thành phố sinh đôi

Ngoài ra Paris còn có nhi?u thành phố kết nghĩa khác:

Thành phố kết nghĩa


[sửa] Chú thích

  1. ^ Site municipal - Dimensions
  2. ^ Site municipal - Cimetière du Calvaire
  3. ^ INSEE - Unité urbaine de Paris (1999)
  4. ^ a b Aire urbaine, population (Insee, recensement de la population, 1999)
  5. ^ a b Muséum nationale d'Histoire Naturelle de Paris, Le Bassin de Paris
  6. ^ Muséum nationale d'Histoire Naturelle de Paris, Le bassin de Paris, Près de 200 ans de progrès stratigraphiques
  7. ^ Annales des Mines , Paul LEMOINE (1878-1940)
  8. ^ Muséum nationale d'Histoire Naturelle de Paris, Le lutétien du bassin de Paris
  9. ^ R.Soyer et A. Cailleux, Géologie de la région parisienne, édition presses Universitaires de France, coll. Que-sais-je ?, 1959, page 94
  10. ^ Alfred Fierro, Histoire et dictionnaire de Paris, p 748.
  11. ^ R.Soyer et A. Cailleux, Géologie de la région parisienne, édition presses Universitaires de France, coll. Que-sais-je ?, 1959, pages 108 et 109
  12. ^ Số liệu v? khí hậu thành phố Paris
  13. ^ Site municipal - Polluants et sources de pollution
  14. ^ Site municipal - Baromètre de la propreté 2003
  15. ^ Relevés Paris-Montsouris 1961-1990
  16. ^ Données climatiques depuis 1873.
  17. ^ Marcel Le Clère, Paris de la Préhistoire à nos jours, p. 21.
  18. ^ INA - Video en ligne du journal de FR3 du 8.10.1991 : halles aux vins Bercy, découverte de 3 pirogues
  19. ^ INA - Video en ligne du journal de FR3 du 27.02.1992 : pirogues de Bercy
  20. ^ Alfred Fierro, op. cit., p. 8-9
  21. ^ Le Monde du 24/02/2004 - La découverte d'une cité gauloise à Nanterre remet en cause la localisation de Lutèce sur l'île de la Cité
  22. ^ Ibid., p. 34-43.
  23. ^ Alfred Fierro, op. cit., p. 11-14
  24. ^ Marcel Le Clère, op. cit., p. 101-104.
  25. ^ Alfred Fierro, op. cit., p 22.
  26. ^ King's College, London - Population of London
  27. ^ Alfred Fierro, op. cit., p 31.
  28. ^ Alfred Fierro, op. cit., p 47-52.
  29. ^ Alfred Fierro, op. cit., p 54-56.
  30. ^ Marcel Le Clère, op. cit., p. 244.
  31. ^ Site municipal - Historique et évolution
  32. ^ Alfred Fierro, op. cit., p 60.
  33. ^ Historia thématique n°107 mai-juin 2007, page 20 : « La Reynie somme les 30.000 habitants de la cour des miracles de déguerpir sous peine de pendre les douze derniers. »
  34. ^ Alfred Fierro, op. cit., p 74-78.
  35. ^ Alfred Fierro, op. cit., p. 78-81
  36. ^ Démographie de Paris
  37. ^ Jean Favier - Paris, 2000 ans d'histoire p. 195-196
  38. ^ Jean Favier - Paris, 2000 ans d'histoire p. 492-493
  39. ^ Alfred Fierro, op. cit., p. 97-98.
  40. ^ Marcel Le Clère, op. cit., p. 406-418.
  41. ^ Marcel Le Clère, op. cit., p. 430-435.
  42. ^ Démographie de Paris
  43. ^ Marcel Le Clère, op. cit., p. 518-521.
  44. ^ Alfred Fierro, op. cit., p 194-204.
  45. ^ L'innovation à la Belle époque Conférence de Marc Giget, Professeur de gestion de l’innovation au conservatoire national des arts et métiers
  46. ^ Alfred Fierro, p 471-472
  47. ^ Marcel Le Clère, op. cit., p. 573-574.
  48. ^ L'aviation allemande bombarde Paris, en août et septembre 1914
  49. ^ Marcel Le Clère, op. cit., p. 579-592.
  50. ^ démographie de Paris
  51. ^ Marcel Le Clère, op. cit., p. 613-620.
  52. ^ Ibid., p. 620-628.
  53. ^ Jean Favier : Paris, deux-mille ans d'histoire, p. 937
  54. ^ Site municipal - Le jumelage avec Rome
  55. ^ L'Express - Les «ratonnades» du 17 octobre 1961 : Retour sur une tragédie
  56. ^ Marcel Le Clère, op. cit., p. 665-668.
  57. ^ Marcel Le Clère, op. cit., p. 668-670.
  58. ^ Insee, enquête de recensement 2004.
  59. ^ Unité urbaine, population (Insee, recensement de la population, 1999).
  60. ^ Texte intégrale de la loi du 10 juillet 1964
  61. ^ Budget primitif 2007
  62. ^ Site officiel de la direction générale des Impôts
  63. ^ Site municipal - Les finances de la Ville de Paris
  64. ^ Le tribunal de grande instance de Paris
  65. ^ Produits Intérieurs Bruts Régionaux (PIBR) en valeur en millions d'euros
  66. ^ Total GDP 2006 [pdf]
  67. ^ Table 1.2 – Top 30 urban agglomeration GDP rankings in 2005 and illustrative projections to 2020 [pdf] UK Economic Outlook
  68. ^ Chambre Régionale de Commerce et d'Industrie : Les chiffres-clés de la région Île-de-France - Édition 2007
  69. ^ INSEE - Les salaires offerts à Paris : pas d'effet "capitale"
  70. ^ "Quelques chiffres utiles afin de comprendre la Défense" sur le site de l'EPAD
  71. ^ Atelier Parisien d'urbanisme - Attractivité économique et création d' entreprises, les forces des territoires. [pdf]
  72. ^ Site municipal de Paris - Tourisme Aperçu
  73. ^ Site municipal de Paris - Le parc hôtelier Parisien et Francilien : État des lieux, comparaisons, évolutions [pdf]
  74. ^ Office du tourisme et des congrès de Paris - Observatoire économique du tourisme Parisien [pdf]
  75. ^ Le marketing de l’expérience, levier du redécollage de Disneyland Paris trên La Poste
  76. ^ L'écho touristique - Paris fête le tourisme
  77. ^ La Tribune - Les parisiens incités à mieux accueillir les touristes
  78. ^ Site officiel de la direction générale des Impôts
  79. ^ L'Express - Le classement des villes par l'ISF
  80. ^ INSEE - À Paris, les ménages les plus aisés voisins des plus modestes
  81. ^ Atelier Parisien d'urbanisme - La pauvreté à Paris. [pdf]
  82. ^ Atelier Parisien d'urbanisme - Politique de la ville, les quartiers parisiens : 17% de la population parisienne sur 17% du territoire. [pdf]
  83. ^ APUR - observatoire des familles à Paris : Les familles parisiennes [pdf]
  84. ^ INSEE - Logements à Paris selon le nombre de pièces
  85. ^ INSEE - Logements à Paris selon l’époque d’achèvement
  86. ^ Préfecture de Paris - Les logements
  87. ^ Classement du groupe immobilier « Knight Frank » et de la « Citi Private Bank »
  88. ^ Citi, Knight Frank '07 Annual Wealth Report. Prime Resdential Property. [pdf].
  89. ^ Voir un compte-rendu du Figaro : « A Londres, le mètre carré atteint des sommets », Le Figaro du 08/05/2007, Le Figaro du 08/05/2007
  90. ^ INSEE - Aire urbaine 99 : Paris - Migrations (caractère socio-économique selon le lieu de naissance).
  91. ^ INSEE - Flux d'immigration permanente par motif en 2003.
  92. ^ Luc Gruson, L'Islam en France, ADRI, 2000, ISBN 2110046465
  93. ^ Jonathan Laurence et Justin Vaïsse, Intégrer l'Islam p.40, Odile Jacob, 2007, ISBN 9782738119001
  94. ^ Histoire de l'immigration en France
  95. ^ APUR - La population étrangère à Paris [pdf]
  96. ^ Comment les grandes capitales gèrent leurs sans-abri - Le Figaro 15 octobre 2007
  97. ^ Enquete sur la misére et les SDF a Paris - 26 avril 2005
  98. ^ Ordre national des médecins - Démographie médicale
  99. ^ Alfred Fierro, Histoire et dictionnaire de Paris, p 931-936.
  100. ^ L'Assistance Publique – Hôpitaux de Paris
  101. ^ Église catholique à Paris - Le diocèse de Paris en bref
  102. ^ Église réformée de France - Région parisienne
  103. ^ Église évangelique lutherienne de France - Région parisienne
  104. ^ Grande mosquée de Paris
  105. ^ a b Xem Danh sách các ngôi chùa Việt ở ngoại ô Paris
  106. ^ Consistoire de Paris
  107. ^ Site municipal - Éducation : Les établissements en chiffres
  108. ^ Site municipal - Écoles supérieures de la ville de Paris.
  109. ^ statistiques Insee
  110. ^ Site municipal - Éducation : Tous les établissements
  111. ^ Le Centre Régional des Oeuvres Universitaires et Scolaires de Paris
  112. ^ Site municipal - Les taxis à Paris
  113. ^ Site municipal - Vélo et circulations douces
  114. ^ Atelier Parisien d'urbanisme - Le développement de la bicyclette, une politique partagée par toutes les collectivités. [pdf]
  115. '^ Site municipal de Vélib
  116. ^ Aéroports de Paris - Chiffres clés
  117. ^ Traffic Movements 2006 FINAL trên Airports Council International
  118. ^ Site municipal - Équipements municipaux
  119. ^ Site municipal - Parc des Princes
  120. ^ Site municipal - Palais Omnisports de Paris-Bercy
  121. ^ Site municipal - Stade Sébastien Charléty
  122. ^ Chi?u cao tối đa cho từng quận được đăng trên trang của chính quy?n thành phố
  123. ^ Paris 1900 - Charles Plumet
  124. ^ Alfred Fierro, op. cit., p 774-775.
  125. ^ Văn bản của UNESCO trên trang web chính thức của tổ chức [pdf]
  126. ^ Château de Versailles – Musée d’Histoire de France trên trang của hội đồng tỉnh Yvelines
  127. ^ Site municipal - Musées
  128. ^ Les 55 bibliothèques de Paris
  129. ^ bibliothèques thématiques de Paris
  130. ^ Site municipal - Bibliothèques
  131. ^ Site municipal - Cinéma en chiffres
  132. ^ 'Ulysses' - sách khiêu dâm hay kiệt tác văn h?c trên Evan
  133. ^ Collectif, sous la direction de Marcel Le Clère, op. cit., p. 641.
  134. ^ Larousse des Littératures françaises et étrangères. Tome I
  135. ^ Robert Gottlieb, The Drama of Sarah Bernhardt
  136. ^ L'Express - Eugène Atget, un regard capital, article du 3/5/2007
  137. ^ L'Express - La passion Doisneau, article du 2/11/2006
  138. ^ a b Việt Văn, Góc nh? ở Paris trên báo Lao ?ộng ngày 6 tháng 5, 2004
  139. ^ Minh Thi, Những ngày xa quê hương trên Ngư?i Viễn Xứ ngày 7 tháng 10, 2004
  140. ^ Cộng đồng ngư?i Việt Nam ở nước ngoài trên báo Quê Hương ngày 9 tháng 3, 2005
  141. ^ Lịch sử hình thành UEVF trên trang chính thức của hội

[sửa] Liên kết ngoài

Ngôn ngữ khác